Hiển thị các bài đăng có nhãn Honda. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Honda. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

Honda Super Cub tại Việt Nam


Một thành công lớn nhất trong lịch sử công nghiệp cơ khí của Nhật Bản là chiếc xe 2 bánh được sản xuất bởi công ty Honda. Đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ về kỹ nghệ của Nhật Bản sau chiến tranh. Mời các bạn đọc qua câu chuyện về chiếc xe gắn máy nhỏ bé Honda SuperCub đã được sử dụng tại Việt Nam trong thập niên 60.
Xe Honda ở Việt Nam
Ngược dòng lịch sử, chiếc Honda SuperCub đã có mặt ở miền Nam Việt Nam vào năm 1963 khi các nhân viên hoa kỳ trong công tác dân sự vụ (đoàn Peace Corps) đến làm việc giúp đở kỹ thuật công nghiệp và nông nghiệp đã đem đến một số xe Honda SuperCub kiểu C100 với động cơ 49cc OHV (overhead valves) ra lò từ năm 1958 khi ông Soichiro Honda quyết định chinh phục thị trường xe gắn máy tại Hoa Kỳ. Kiểu xe nầy có đặc tính với tiếng máy khua xành xạch do trục cam nằm trong lòng máy, vận hành các van đóng mở của buồng đốt bằng 2 thanh đũa thép truyền động và ống pô xả khói hình dẹp.

Photobucket
Chiếc Cub C100 đầu tiên chinh phục thị trường Hoa Kỳ vào năm 1958.
Photobucket
Bộ máy OHV trên một chiếc C110 bán tại Hoa Kỳ.
Photobucket
Một vài loại động cơ OHV trang bị cho các loại xe Honda Cub với bộ ly hợp (embrayage) tay hoặc tự động cùng bộ đề nổ máy bằng điện, một chiếc Honda Gorilla trong hình là kiểu đầu tiên bán tại Nhật Bản.

Trên thị trường xe 2 bánh có động cơ tại miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 60, đa số là các loại xe nhập từ các nước ở châu Âu: Mobylette-Motobécane, Vélo-Solex, Vespa, Lambretta, Puch, Sachs (máy Sachs lắp ráp trên các loại xe Phénix, Goebels...), v.v. Yếu điểm của các loại xe nhập từ châu Âu là loại động cơ 2 thì mà các trạm bán xăng không bán loại xăng pha nhớt dùng cho loại động cơ nầy ngoại trừ trong những thành phố lớn, ở miền quê phải mua xăng và nhớt về pha chế lấy. Ngoài ra, thiết kế về cơ khí đơn sơ và nhất là không chú trọng về điểm cân bằng trọng lượng xe, chẳng hạn như chiếc Vélo-Solex với bộ máy nằm trên bánh trước nên khó điều khiển tay lái - việc thay nhớt máy của một chiếc xe máy Sachs đòi hỏi nhiều thao tác...

Photobucket
Một chiếc Honda C-50 trên cầu xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà. Được nhập cảng vào Việt Nam từ năm 1965.
Photobucket
Hình dáng những người dân Sài Gòn trên những chiếc Honda ở thập niên 60.
Photobucket
Một chiếc Honda C-50 trên đường đến Thủ Đức.

Nhu cầu sử dụng phương tiện lưu thông ngày càng cao và giá cả một chiếc xe gắn máy không phải ai cũng có thể mua được ngay, chính phủ VNCH trong chương trình cải thiện đời sống quân nhân và viên chức đã cho nhập cảng các loại xe gắn máy sản xuất ở Nhật Bản do đường vận chuyễn gần với Việt Nam và giá cả rẽ hơn so với các loại xe âu châu. Trong đợt xe gắn máy đầu tiên được nhập cảng vào VN vào năm 1965 là loại xe Honda C-50 sơn mầu đỏ, thường được gọi là xe Honda quân đội (và còn được gọi là Honda Dame) vì những người được ưu tiên mua xe là các quân nhân phục vụ ở Sài Gòn, đợt đầu có khoảng 5.000 chiếc đã bán sạch trong vài tuần - số máy đóng trên xe mang ký tự YA, tiếp đến là loại C-50 mầu xanh với ký tự YB...

Photobucket
Một chiếc Honda C-50 trên đường phố Sài Gòn, đằng sau là một chàng lính hải quân VNCH trên một chiếc Vélo-Solex.
Photobucket
Hình dáng thướt tha của một nữ sinh trên chiếc Honda C-50 ở Sài Gòn, một hình hiếm thấy so với ngày nay, người đi xe được trang bị khẩu trang và găng tay trùm kín…

Liền sau đó, các hảng nhập cảng bắt đầu được phép nhập vào loại Honda C-50, Suzuki 50 kiểu M-12, M-15 và M-30; Yamaha 50 kiểu YJ2, U5, YF5; Bridgestone BS-50, Kawasaki... và bán ra cho dân chúng. Tiếp theo năm 1966, cục Quân Tiếp Vụ của quân đội bán ra loại xe Honda thể thao S-50 nhưng không thành công cho lắm cho đến khi đợt xe Honda SS-50 nhập vào, trông tương tự như những chiếc S-90 mà quân nhân hoa kỳ sử dụng.

Photobucket
Một động cơ Honda OHC được đưa vào sản xuất từ năm 1965 đã làm nổi bật ưu điểm của loại động cơ 4 thì - sự nghiệp của loại động cơ nầy kéo dài đến ngày nay, gần 45 năm, được xem như là một kỷ lục.

Kiểu xe Honda C-50 nhập vào VN hoàn toàn mới so với các kiểu xe Cub nhập vào Hoa Kỳ. Với động cơ 49cc OHC (overhead camshaft) tiếng máy nổ êm dịu hơn loại động cơ OHV, do việc cải tiến đưa trục cam lên trên đầu máy và vận hành bởi một dây sên (chaîne) từ trục máy, Honda C-50 thừa kế chiếc C100 SuperCub mà bộ ly hợp tự động (embrayage) lớn hơn với hộp số 3 số và kích động máy bằng cần đạp chân hoặc bộ đề (démarreur) bằng điện và các đèn báo hiệu lớn hơn dễ thấy từ xa.

Photobucket
Một chiếc Honda Super Cub sản xuất nhân dịp chiếc thứ 50 triệu xuất xưởng, hình dáng kiểu xe vẫn duy trì như dòng xe C-50 của thập niên 60.

Vấn đề chiếc Honda C-50 lúc ban đầu cũng không tránh khỏi đàm tiếu của những người quen sử dụng xe 2 bánh châu âu, việc vận hành hộp số tự động của chiếc C-50 đã gây ra không ít tai nạn nhỏ như xe chồm lên hất ngã người lái khi khởi hành, bu-gi xe kiểu nhỏ khó kiếm... và có người đồn rằng những hảng bán xe 2 bánh châu âu đã thuê người dắt xe Honda đi bộ trên đường than phiền xe hỏng máy... Bù lại, người ta nhận ra ngay chiếc C-50 ít hao xăng, với động cơ 4 thì không cần phải pha nhớt và chịu nóng hơn các động cơ 2 thì, khi mua xe có thêm cuốn cẩm nang xử dụng và gói nhựa đựng một vài khoá mở bu-gi và chỉnh ốc vít cùng một hộp sơn nhỏ dùng để sửa vá lớp sơn.

Photobucket
Hình một chiếc Honda SS-50 đời năm 1967 rao bán tại Pháp được tân trang, cũng với guidon thẳng như kiểu đã bán tại Việt Nam, ngoại trừ vè chắn bùn sau bằng thép uốn mượn từ kiểu CD-50 và sơn cùng mầu với thân xe.

Khi chiếc Honda SS-50 nhập vào VN thì những đồn đải xấu xa về các loại xe 2 bánh nhật đã đi xa, các loại xe gắn máy châu âu lu mờ trước những dáng vẻ thanh lịch cùng mầu sơn bóng bẩy của những chiếc xe nhật, dần dần vắng bóng về miền quê để trở thành xe lôi hoặc xe 3 bánh. Loại xe Honda nhập nội đến năm 1975 khi chế độ VNCH sụp đổ thì đã có trên 10 kiểu xe khác nhau đáp ứng nhu cầu vận chuyễn và ý thích của khách hàng. Về đặc tính kỹ thuật, mời bạn tham khảo tại đây 


Photobucket
Chiếc Honda ANF Innova 125cc đang khuyến mãi ở châu Âu (Made in Thailand), là dòng xe hiện nay phát triển từ SuperCub (tương tự như Wave 110S và Wave 110RS ở Việt Nam với động cơ 109cc). Sự khác biệt so với SuperCub ban đầu là dùng bộ đánh lửa điện tử CDI và không còn dùng bộ chế hoà khí (carburateur) nữa mà được thay thế bằng hệ thống kim phun xăng điện tử PGM-FI đặc chế bởi Honda nhằm tiết kiệm nhiên liệu và giảm ô nhiểm môi trường.

Ngày nay kiểu xe SuperCub đã có trên 60 triệu chiếc xuất xưởng từ 15 nhà máy trên thế giới và có hơn 50 dáng kiểu khác nhau, không kể đến những chiếc xe cải tiến từ SuperCub với những động cơ 4 thì OHC 50cc, 65cc, 70cc, 90cc, 100cc và gần đây với chiếc Honda Innova 125cc. Ngoại trừ một vài công ty được phép sản xuất từ Honda như SYM, Kymco, Daelim... thì đa số loại SuperCub được nhái lại bởi các công ty sản xuất xe 2 bánh ở Trung Quốc mà không cần giấy phép nhượng quyền vì ở quốc gia nầy không có luật bảo vệ quyền công nghệ cũng như sở hửu trí tuệ.

Sơ lược về công ty Honda American Motor

Photobucket
Soichiro Honda (1906-1991) sáng lập viên công ty Honda, với đầu óc táo bạo ông đã thành công trong việc khuếch trương kỹ nghệ cơ khí của Nhật Bản, mặc dù bị điểm xấu ở trường học lúc còn thiếu thời, ông chủ trương không đi theo nguyên tắc kinh doanh truyền thống của Nhật Bản mà làm một cuộc phiêu lưu táo bạo, cuộc cách mạng về kinh tế đã đưa ông thành một trong những chuyên gia công nghiệp lớn nhất trên thế giới.

Phần nầy chỉ nói qua việc Honda chinh phục thị trường Hoa Kỳ trong thập niên 50 vì nói đến lịch sử hình thành hảng Honda, các sản phẩm và đời tư của ông Soichiro Honda quá dài nên sẽ viết riêng thành chủ đề khác.

Bổ túc: Một bài viết gần đây nói về lịch sử hình thành công ty Honda - xem bài Xe Honda N360 

Photobucket
Photobucket
Hình ảnh chiếc xe 2 bánh gắn máy Honda Cub F 1952 được trưng bầy tại bảo tàng Honda ở Nhật Bản. Kiểu xe nầy đáp ứng với nhu cầu vận chuyễn của các công nhân trong nước Nhật sau chiến tranh, khoảng gần 17.000 chiếc Cub F bán ra trong năm 1952 và xem như là một thành công đầu tiên của Honda.

Năm 1958, Soichiro Honda là một kỹ-sư cơ-khí chuyên về sãn-xuất xe 2 bánh tại Nhật cuối thập niên 40 bắt đầu chinh phục thị trường xe mô-tô vùng bắc châu Mỹ. Ông ta lập ra công ty Honda American Motor Inc. mà cơ-xưởng đầu tiên đặt tại số 4077 West Pico Boulevard, Los Angeles, California.

Photobucket
Trụ sở đầu tiên của Honda American Motor trên đường West Pico, Los Angeles.
Photobucket
Một góc trong trụ sở của Honda American Motor ngày nay được thiết kế giống như cửa hàng của Honda trong thập niên 50.

Lúc bấy giờ trên thị trường xe 2 bánh tại Hoa-Kỳ, ngoại trừ sản phẩm nội địa Harley Davidson, thì chỉ có xe của Anh Quốc: Triumph, BSA, Matchless, AJS, Norton, Velocette, etc. chiếm lãnh toàn bộ các tuyến đường xứ cờ hoa. Honda đưa vào thị trường Hoa Kỳ với một vài kiểu Dream và Benly (125 - 350cc, Benly dịch âm từ tiếng nhật có nghĩa là “tiện nghi” và có âm đọc tựa như các loại xe thể thao Bentley), đặc biệt là chiếc C100, một loại xe gắn máy 49cc với cấu trúc của một xe mô-tô với động cơ 4-thì đặt ở giữa khung sườn xe tạo nên sự cân bằng về trọng lượng và dễ điều khiển hơn các loại xe gắn máy khác của châu âu vào thời đó.

Photobucket
Những người sáng lập công ty Honda American Motor, từ trái qua phải: Soichiro Honda, Jack McCormack chuyên về quản trị và khuyến mãi, Tex Brichard chuyên về điều hành và phát triển thương vụ.

Thêm vào đó, Honda đã táo bạo dùng chất nhựa vào quy trình sản xuất chiếc SuperCub như một cuộc cách mạng, chẳng hạn như vè chắn bùn bánh trước, vè chắn bảo vệ chân, hộp đựng bình điện và phụ tùng... những cơ phận hoàn toàn chế tạo bằng nhựa mà các nhà chế tạo xe mô-tô khác không dùng đến.

Photobucket
Những tấm bửng nhựa của chiếc SuperCub đang chờ lắp ráp tại cơ xưởng Honda ở Hamamatsu, được xem như là một cuộc cách mạng táo bạo về việc sử dụng nguyên liệu trong chu kỳ sản xuất xe 2 bánh.

Từ năm 1958 đến 1962, Honda bán được hằng năm khoảng 15 đến 20.000 chiếc tại Hoa Kỳ. Dựa trên sự nghiên cứu về thị trường tiêu thụ tại đây, loại xe mô-tô không bán được nhiều bởi vì hình ảnh những người lái xe mô-tô là những chàng trai bạt mạng giang hồ, những hình ảnh qua các phim Hollywood; lý do kế tiếp là giá bán mỗi chiếc xe mô-tô thời đó khoảng từ 1.500 đô-la đến 2.500 đô-la không phải ai cũng có thể mua được.
Honda C100 Super Cub 1963
Honda Super Cub 1963
Một chiếc Honda SuperCub C100 đời 1963 bán tại Canada, điểm khác biệt với loại SuperCub ở Hoa Kỳ là được trang bị 2 đèn báo hiệu mầu vàng cam (bấm vào xem hình lớn hơn).

Soichiro Honda và bộ tham mưu tại Hoa-Kỳ do Nakajima điều khiển đã quyết định tung vào thị trường với chiếc SuperCub mới vào cuối năm 1962 (SuperCub hai chử nối liền với nhau để phân biệt với chiếc máy bay loại nhỏ Piper Super Cub và chử CUB là do viết tắt của Cheap Urban Bike = Xe gắn máy rẽ tiền dùng trong nội thành), chiếc SuperCub 49cc được tung ra với phần cải tiến: yên đôi và 2 versions gồm loại xe có cần đạp nổ bằng chân và loại có đề nổ bằng điện bấm nút từ  ghi-đông - loại nầy nhắm vào các phụ nữ thường hay mặc váy bó khó đạp nổ máy bằng chân. Loại Cub C-50 được bán ở Việt Nam từ năm 1965 với động cơ 4-thì mới OHC có trục cam chuyền bằng nhông sên và thường là loại khởi động máy bằng cần đạp, rất ít loại có bộ đề nổ máy bằng điện. Trong vòng 2 năm sau, các loại xe gắn máy nhập cảng từ châu âu biến mất trên thị-truờng Việt Nam.

Photobucket
Jack McCormack, cha đẻ của câu slogan Honda nổi tiếng trong một cuộc đua Dodge-City 100-mile Economy Run vào năm 1961 và đương nhiên ông ta đã thắng cuộc dễ dàng chứng minh chiếc Honda SuperCub rất tiết kiệm, ít ăn xăng.
Photobucket
Một tờ quảng cáo xe SuperCub về tiết kiệm nhiên liệu, người ta có thể dùng xe chạy được 225 dặm với 1 gallon xăng.

Nhờ vào câu quảng cáo nổi tiếng của Jack McCormack: “You meet the nicest people on a Honda” (Bạn gặp những người dễ thương nhất trên những chiếc Honda) và những hình vẽ tất cả những người già trẻ lớn bé trên những chiếc C100 SuperCub do công-ty quảng cáo Grey Advertising đảm nhiệm. Năm 1963, sau khi tung ra chiến dịch “You meet the nicest people on a Honda” vào mùa Giáng Sinh 1962, hảng Honda bán được trên 200.000 chiếc, tăng phần thu nhập đến 500%, một con số kỷ-lục đáng kể vào thời điểm đó, trong khi các đối thủ chỉ bán được lèo tèo chừng 1.000 chiếc xe!

You meet the nicest people on a Honda
Nicest People
Một tấm quảng cáo với slogan “You Meet the Nicest People on a Honda” đăng trên các báo và tạp chí ở Hoa Kỳ trong khoảng năm 1962-1963 (bấm vào xem hình lớn hơn).

Hình ảnh những chàng trai phiêu bạt giang hồ trên những chiếc mô-tô đã được thay thế bằng những người xinh đẹp trên chiếc Honda SuperCub gọn nhẹ dễ thương, với giá thành từ 215 đến 245 đô-la một chiếc, SuperCub đã trở thành quà biếu sinh-nhật hoặc Noël. Jack McCormack đã biến sản phẩm Super Cub thành một chiếc xe máy gọn nhẹ, dễ sử dụng với dáng vẻ thanh tao; và cũng được tiếp tay của các ca sĩ như ban nhạc trẻ The Beach Boys với bài hát  Little Honda, chiếc Honda C110 của Elvis Presley và chiếc C100 của Ann Margret trong cuốn phim Viva Las Vegas... đã đưa hình ảnh những chiếc Honda xinh xắn thấm nhập vào tâm trí những thanh niên thiếu nữ ở Hoa Kỳ. Sự thành công rực rở của SuperCub qua câu slogan nổi tiếng của McCormack đã trở thành một đề tài nghiên cứu trong các trường đại-học về thương mại hiện nay.

Photobucket
Đoạn phim Viva Las Vegas với Elvis Presley và Ann Margret trên những chiếc Honda thâm nhập vào giới trẻ đầy nhựa sống ở Hoa Kỳ trong đầu thập niên 60.

Nhờ vào thu nhập của việc bán xe SuperCub, 2 năm sau, 1965 - Soichiro Honda lao vào cuộc phiêu lưu mới với loại xe ô-tô S600 và S800 dựa trên mẩu mã của chiếc Triumph TR6, Honda ngày nay được xếp vào nhà sãn-xuất xe ô-tô thứ hai của Nhật Bản, đứng sau hảng Toyota. Xe SuperCub sau 50 năm kể từ khi tung ra thị trường đã bán được trên 50 triệu chiếc, đứng đầu bảng trước loại xe có động cơ  Ford T và Volkswagen Bettle.

Photobucket
Tất nhiên việc kinh doanh sản phẩm Honda không chỉ là sách báo, phim ảnh và nhạc. Từ cuối thập niên 50, Soichiro Honda đã cố gắng chinh phục người tiêu thụ biết đến sản phẩm của Honda qua các cuộc đua xe và phải đoạt giải. Tay đua xe Honda Ralph Ryan với chiếc xe đua Honda 50cc RC113 vừa qua mặt một chiếc Suzuki trong cuộc đua vào năm 1963 (rất tiếc là loại xe 50cc bị hủy bỏ, rút ra khỏi các cuộc đua vài năm sau đó).

Trong suốt thời gian kể từ khi công ty Honda ra đời, một số sản phẩm đã làm mọi người tiêu thụ trên thế giới ghi nhận những thành quả nổi bật của Honda: xe mô-tô 4 xy lanh hàng dọc CB750 Four của cuối thập niên 60, xe mô-tô GL1800 vào năm 2001 thay thế dòng Gold Wing cũ, xe ô-tô thể thao rẽ tiền S600 và S800 của thập niên 60 & 70, các dòng xe ô-tô Civic. Ngoài ra còn có những sản phẩm như máy cày tay, máy cắt cỏ, động cơ các tầu thuyển du lịch loại nhỏ... và gần đây Honda đã phiêu lưu vào lảnh vực không gian với chiếc máy bay phản lực Honda Jet.

Photobucket
2 kiểu xe Honda được bán ra ở Nhật Bản nhân kỷ niệm 50 năm thành công của loại xe Cub: Super Cub và Little Cub.

Tuy nhiên một trong những thành công lớn nhất của Honda vẫn là chiếc xe gắn máy Honda Cub mà năm vừa qua đã làm tổ chức kỷ niệm 50 năm từ ngày xuất quân chinh phục thị trường Hoa Kỳ và cũng vừa đánh dấu vượt lên đến 60 triệu chiếc Cub bán ra trên thế giới. Bộ tham mưu Honda hy vọng chỉ trong vòng vài năm tới, con số 100 triệu chiếc Super Cub xuất xưởng sẽ đến trong tầm tay của họ.

Vài hình ảnh về cuộc sống hàng ngày với xe Cub tại Nhật và Việt Nam
Photobucket
Một chiếc Cub đời đầu tiên vẫn còn sử dụng tại Nhật Bản.
Photobucket
Một chiếc Cub 3 bánh tự chế tại Nhật Bản.
Photobucket
Một công nhân đến làm việc bằng xe SuperCub.
Photobucket
Một chiếc xe chế tạo từ chiếc SuperCub cho các nhân viên Bưu Điện phát thư tại Nhật Bản.

Tại Việt Nam

Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Về khả năng thích ứng tài tình của người việt trên những chiếc xe 2 bánh thì xin miễn bàn, mời các bạn xem hình.

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Xe Honda N360

Vào cuối thập niên 1960, miền nam Việt Nam bước qua giai đoạn cơ giới hoá các phương tiện giao thông; một phần do nhu cầu đi lại của dân chúng, một phần đánh dấu sự phát triển về đời sống và tiện nghi trong đó xe máy và xe ô-tô đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng kinh tế quốc gia. Một trong những phương tiện giao thông rẻ tiền tại Việt Nam vào đầu thập niên 1970 là chiếc xe Honda N360.
Nguồn gốc về xe Honda

Một ngày vào tháng 9 năm 1946, ông Honda đã đến thăm nhà một người bạn, ông Kenzaburo Inukai. Ở đó, tình cờ, ông thấy một động cơ nhỏ. Ông đã quen biết ông Inukai thông qua việc sửa chữa ô-tô khi ông làm việc tại chi nhánh Art Shokai ở Hamamatsu và ông Inukai đang chạy xe cho một công ty taxi. Ông Inukai đã có cơ may mua sắm được một động cơ máy phát điện được thiết kế cho một đài vô tuyến số 6 cũ của Quân Đội Hoàng Gia Nhật mà một người quen đã để lại cho ông ấy. Khi ông Honda nhìn thấy cổ máy, ngay lập tức ông đã  lấy cảm hứng với một ý tưởng. Đó cũng là khoảnh khắc của duyên số trời định. Cuộc gặp gỡ này xác định toàn bộ hướng tương lai của ông Honda, và từ đó mà sau này Honda Motor Co. sẽ được sinh ra.

Ông Honda đã bắt đầu hành nghề như là một thợ cơ khí sửa chữa ô tô. Động cơ là những gì ông biết tốt nhất và trên hết, ông là một nhà phát minh.

Chẳng cần phải mất nhiều thời gian để gợi cho ông Honda ý tưởng: "Hãy sử dụng cổ máy nầy để cung cấp năng lượng cho một chiếc xe đạp".

Photobucket
Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda tại số 30, khu Yamashita-cho, thành phố Hamamatsu

Khái niệm gắn một động cơ phụ trợ để cung cấp sức kéo cho một chiếc xe đạp đã trải qua khoảng một thời gian dài. Nó đã được chế tạo thành một sản phẩm thương mại ở Anh Quốc và những nơi khác, và một vài trong số các sản phẩm này đã được nhập khẩu vào Nhật Bản trong những ngày trước chiến tranh. Hơn nữa, khái niệm ban đầu của xe gắn máy được phát triển từ khái niệm lắp đặt thêm một nguồn năng lượng để tăng sức đẩy cho chiếc xe đạp. Một chiếc xe đạp với một động cơ phụ trợ kèm theo rất gần với thiết kế những xe mô-tô lúc ban đầu. Mặc dù chiếc xe đạp gắn máy như vậy đã được sản xuất ra trên thế giới, nó vẫn không được phổ biến ở Nhật Bản trong thời gian trước chiến tranh. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, điều kiện giao thông ở Nhật Bản đã xấu đi, và phương tiện chủ yếu của người dân về giao thông vận tải là chiếc xe đạp. Với hàng hóa xếp chồng lên cao, nó đã trở thành một phương tiện làm ăn trong việc vận chuyển hàng hóa. Nếu một động cơ phụ trợ có thể được gắn thêm vào sẽ giúp cho việc vận tải hàng hoá bằng xe đạp trở nên dể dàng. Và như thế lại tăng thêm sự hửu dụng của chiếc xe. Ông Honda đã phát hiện ra một cái gì đó mà mọi người sau này sẽ được hưởng, đồng thời cũng là một dịch vụ kinh doanh tốt, và hơn nữa lại là trong lĩnh vực đặc biệt của riêng ông Honda.

Ông Honda ngay lập tức để làm việc trên một mẫu gốc. Đó là vào thời điểm này, ông lấy một chai nước nóng kiểu Nhật Bản mà ông tìm thấy trong nhà của mình và sử dụng nó như là bình xăng. Các mẫu thử nghiệm ban đầu có động cơ gắn vào phía trước của tay lái xe đạp và áp dụng sức kéo bằng một con lăn ma sát cao su áp vào bên hông của bánh xe phía trước. Khái niệm này giống như xe Vélo-Solex, một xe gắn máy bán chạy nhất tại Pháp. Tuy nhiên, phương pháp này nhanh chóng phá hỏng các lốp xe kém chất lượng do sự ma sát dẫn đến nổ lốp thường xuyên. Các người sử dụng xe cũng là người nghèo và phương pháp này đã nhanh chóng bị bỏ rơi. Thay vào đó, ông thay đổi ý tưởng của mình bằng cách bố trí động cơ thông thường với một vành đai hình V kéo bánh xe phía sau.
Photobucket

Photobucket
Kiểu xe đạp Type A gắn động cơ phụ trợ đầu tiên của công ty Honda

Tuy nhiên ở thời điểm nầy, chúng ta phải nhận thấy rằng ý tưởng cổ máy ban đầu đã là khả thi. Phương pháp gắn bộ ly hợp cùng với dây đai kéo đã được ghi nhận như là một mô hình hữu ích.

Trong giai đoạn sau chiến tranh này, xe đạp với động cơ phụ trợ xuất hiện cùng lúc ở các vùng khác nhau trong nước Nhật Bản. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Thay vào, đấy là một hiện tượng xuất hiện để đáp ứng nhu cầu đi lại vào thời điểm đó. Sản xuất xe máy thích hợp đã khởi động, mặc dù với số lượng nhỏ, bởi một số ít các công ty đã sản xuất trước chiến tranh, và một phiên bản hoàn toàn mới của xe hai bánh cũng được sản xuất vào năm chiến tranh kết thúc. Đây là xe tay ga đầu tiên được chế tạo tại Nhật Bản, xe scooter Fuji Rabbit vào năm 1945 (xem bài viết về xe scooter Fuji Rabbit).

Tuy nhiên, giá bán những chiếc xe máy nầy ở ngoài tầm tay của đa số mọi người. Ngược lại, các cổ máy phụ trợ cho một chiếc xe đạp đã được chào đón như là một tiện nghi mang tính cách mạng mà bằng cách nào đó mọi người đều có thể mua sắm.
Photobucket

Photobucket
Xe đạp Type A năm 1946 với động cơ 2 thì kéo máy phát điện cho đài vô tuyến số 6 được Soichiro Honda mua về cải tiến và lắp ráp trên xe đạp

Bộ máy 2 thì 50cc cải tiến này đánh dấu sự khởi đầu của công ty Honda Motor Co. và là một trong những sản phẩm cơ khí đầu tiên xuất hiện.

"Vào mùa hè cuối năm 1946, một doanh trại giống như tòa nhà nhỏ được dựng lên giữa những đám cỏ um tùm trên mảnh đất cháy xém toạ lạc tại số 30, khu Yamashita-cho, thành phố Hamamatsu. Bên trong là một máy tiện truyền động bằng dây đai cũ và bên ngoài khoảng mười máy công cụ xếp thành hàng. Tại lối vào, biển hiệu công bố tên gọi là Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda đã được treo. Chủ tịch và 12 hay 13 nhân viên đã làm việc chăm chỉ".

Đây là đoạn mở đầu lịch sử của Honda Motor Company công bố nhân dịp kỷ niệm lần thứ bảy năm thành lập công ty. Đương nhiên chủ tịch là Soichiro Honda. Lịch sử ghi lại đơn giản ngày thành lập là vào cuối mùa hè, nhưng chính xác hơn, đó là ngày 1 tháng 9 năm 1946. Xe đạp có động cơ phụ trợ đã được đem ra thị trường vào tháng 10 do Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda kể từ khi thành lập chỉ một thời gian ngắn kể từ khi cuộc gặp gỡ của ông Honda với cổ máy phát điện cho đài phát thanh vô tuyến.
Photobucket
Hình chụp ở phi trường Columbus Airport trong cuộc viếng thăm tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ với ý định mở nhà máy Honda tại đây. Từ trái qua phải: kỹ sư Kiyoshi Kawashima, bà Sachi Honda (tên con gái là Isobe), ông Soichiro Honda, Thống đốc James Rhodes và một cộng sự viên.

"Trước khi chọn đến động cơ này, chúng tôi đã cố gắng thử nghiệm một số máy khác nhau và không có gì trong số các mẩu máy dường như hoàn toàn đáp ứng những gì 'ông lão' (cách gọi ông Soichiro Honda một cách thân mật) muốn áp dụng" Isobe cho biết, mô tả sự chú tâm nhiệt tình của chủ tịch Honda". Nhưng lần này, ông đã có một thái độ hoàn toàn khác. Phương pháp dùng bánh lăn cao su không chạy tốt, do đó, ông tự hỏi liệu có thể thử gắn động cơ ở trung tâm hoặc ở phía sau xe, và bàn bạc về việc liệu cổ máy cần phải có một vành đai kéo bằng ổ đĩa hoặc ông ta nên sử dụng một chuỗi dây sên, đại khái như thế. Trong ba hoặc bốn ngày ông làm việc không ngừng kể cả ngày và đêm. Tôi đã ở đó và giúp đỡ ông ấy. Vào ngay khi đó, tấm biển hiệu Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda đã bay xa".

Sachi nhớ lại: "Tôi đã thực hiện một trong những việc thử cưỡi chiếc xe. Đó là những gì chồng tôi nói khi ông đã đem một trong các máy mẫu thử nghiệm của mình về nhà. Sau đó, ông kể lại rằng ông đã làm ra nó bởi vì ông không thể đứng xem tôi đạp rất chăm chỉ chiếc xe một cách mệt nhọc khi tôi đi kiếm thực phẩm để mua, nhưng đó chỉ là một câu chuyện mà sau đó ông đã thuật lại để làm cho nghe có vẻ tốt hơn mặc dù đó có thể thực ra chỉ là một phần nhỏ. Tuy nhiên trên điểm chính, tôi nghĩ rằng ông ấy thực sự muốn biết liệu một phụ nữ có thể sử dụng chiếc xe đạp gắn động cơ hổ trợ của mình hay không. Tôi đã thành con chuột bạch thử nghiệm. Ông bắt tôi lái xe trên tất cả các đường phố chính đông người, vì vậy tôi mặc quần monpe tốt nhất của tôi (loại quần rộng thùng thình mặc bởi phụ nữ nông nghiệp và lao động nữ ở Nhật Bản) khi tôi sử dụng chiếc xe đạp".

Do đó, người phụ nữ đầu tiên lái xe thử nghiệm trong lịch sử của Honda Motor Co. là vợ của chủ tịch công ty, bà Sachi. Làm thế nào mà các người qua đường phải chăm chú nhìn. Đấy là một chiếc xe đạp mà hoạt động như một chiếc xe máy và nó đang được một phụ nữ điều khiển. Rõ ràng đó một phần kế hoạch của chủ tịch Honda đã có toan tính riêng của mình để trở thành đầu câu chuyện trong thị trấn.

"Sau khi chạy xe trong khoảng một thời gian, tôi trở về nhà và chiếc quần monpe đẹp nhất của tôi đã bị phủ đầy dầu", bà Honda tiếp tục kể. "Tôi nói với ông ấy sự cố này không được tốt. Khách hàng của mình sẽ trở lại và họ sẽ chửi ruả. Phản ứng bình thường mọi khi của ông là "Ồ, hãy bình tĩnh. Không sao đâu". Nhưng thay vào đó, lần nầy ông nói: "Hmm, đúng là có thể như vậy". Ông ấy chấp nhận một cách không bình thường về chuyện nầy".

Lý do về sự vấy bẩn là do hỗn hợp nhiên liệu/dầu đã được thổi trở lại thông qua bộ chế hòa khí. Cũng như bà Honda muốn có những cải tiến thích hợp đã được chỉnh sửa để ngăn chặn điều này xảy ra trong các mô hình bán ra thị trường.

Máy phát điện cho đài vô tuyến số 6 được sản xuất bởi công ty Mikuni Shoko mà công ty nầy đã nổi tiếng với sản phẩm về bộ chế hòa khí. Chủ tịch Honda nhanh chóng đi vơ vét mua những sản phẩm còn sót lại ở các nhà máy Mikuni tại Odawara và Kamata.

Tuy nhiên với 500 bộ máy mà ông đã có thể gom góp lại, chắc chắn ông đã không làm bất cứ điều gì quá đơn giản như là chỉ chú tâm lắp ráp bộ máy vào xe đạp và sau đó đem chúng bán ra thị trường. Ông tháo rời tất cả các động cơ từng chiếc một, lắp đặt một số công việc vào cổ máy và ráp lại trước khi gắn nó vào một chiếc xe đạp, sau đó đem ra chạy thử và kiểm tra trước khi bán nó. Đấy là công đoạn đầu tiên của việc thanh tra xe thành phẩm xuất xưởng ngày nay.

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Xe đạp với động cơ hổ trợ Type A năm 1947 cải tiến với bộ máy 2 thì Honda, vè chắn bảo vệ dây đai kéo bánh xe và bình xăng mang logo Honda

Mỗi động cơ phụ trợ xe đạp đã được xử lý từng chiếc một để nó sẽ không làm hoen ố tên của Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda, tuy nhiên không biết sự cố nào có thể có được.

Hoàn thành sản phẩm theo cách này, các động cơ phụ trợ xe đạp đã được biết đến rộng rãi thông qua việc truyền từ miệng qua tai. Sau khi nghe những tin đồn đải, những người mua đến Hamamatsu từ Nagoya, Osaka, Tokyo và các thành phố lớn khác.

Rõ ràng rằng các động cơ cải tiến sẽ sớm bán hết sạch. Tất nhiên, chủ tịch Honda đã chuẩn bị cho bước đi tiếp theo. Những gì họ đã đang làm việc là sự phát triển động cơ riêng của họ và sản xuất ra động cơ Honda.

Trong tháng ba năm sau, vào năm 1947, Kiyoshi Kawashima trở thành cộng tác viên đầu tiên của công ty có trình độ kỹ thuật. Ông ta đã có cuộc phỏng vấn công việc của mình tại nhà riêng của chủ tịch Honda, ngồi gần tại một bàn kotatsu ấm áp truyền thống (bàn ấm chân bằng nước ở Nhật Bản). Sachi Honda nhớ lại dịp này:

"Chồng tôi nói với ông Kawashima," "Hiện tại, tôi không có khả năng trả tiền lương cho mức lương của người tốt nghiệp đại học." Kawashima trả lời một cách lể độ, "Tôi không quan tâm đến cho lắm".

Kawashima nhớ lại:

"Vâng, thẳng thắn mà nói, đó là năm 1947, phải thế không? Đó là đỉnh cao của tình trạng thất nghiệp. Vào thời điểm đó, tôi không quan tâm đến món tiền phải trả. Chỉ để tôi có thể làm công việc của một kỹ sư, công ty thì không quan trọng gì cho lắm với tôi. 'Ông lão' đã là một kỹ sư nổi tiếng ở Hamamatsu và đây là một cơ hội để tôi làm việc ở vị trí của ông ấy. Ngoài ra, gia đình của tôi ở khu Motome-cho, khu phố ngay bên cạnh Yamashita-cho, vì vậy chỉ mất năm phút đi bộ để làm việc. Không tốn chi phí vận chuyển. Việc trả tiền chắc chắn là thấp lúc đầu và đôi khi tôi lo lắng thậm chí tôi sẽ nhận được lương vào đúng lúc hay không, tôi đôi khi lo lắng về tiền lương, nhưng tôi là người độc thân sống nhờ ở cha mẹ tôi, vì vậy tôi tự xoay sở được. Bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra tôi đã rất may mắn", ông tươi cười kể lại.
Photobucket

Photobucket

Photobucket
Kiểu xe đạp có động cơ hổ trợ Type F được đặt tên là Honda Cub F là kiểu xe đạp gắn động cơ Honda cuối cùng trước khi Honda bắt đầu sản xuất xe máy nguyên chiếc. Ra mắt vào năm 1952 và ngưng sản xuất năm 1954, xe Honda Cub F (Cub: Cheap Urban Bike - xe máy rẻ tiền sử dụng trong thành phố) đánh dấu sự phát triển của thương nghiệp Honda, được xếp vào 1 trong 240 mốc Công Nghệ Ô-tô Nhật Bản (240 Landmarks of Japanese Automotive Technology).

"Bạn có thể bắt đầu làm việc vào ngày mai," Honda nói với Kawashima và đơn giản rằng ông được thuê làm việc.

"Sau đó, khi tôi bước vào, công việc đầu tiên của tôi là cải tiến động cơ máy phát điện đài phát thanh vô tuyến. Khoảng chục cổ máy sẽ được cải tiến trong mỗi thứ hai hàng tuần, tôi sẽ tách rời máy phát điện và tháo dỡ động cơ. Ngày thứ ba, tôi sẽ rửa sạch tất cả các bộ phận rời. Qua ngày thứ tư, thứ năm và thứ sáu, tôi sẽ xử lý các bộ phận, và ngày thứ bảy lắp ráp chúng lại với nhau. Buổi chiều thứ bảy, tôi sẽ gắn các bộ máy hổ trợ cho xe đạp và đưa chúng vào chuyến chạy thử nghiệm. Tôi nói về việc cưỡi xe chạy để kiểm tra, nhưng tất cả việc tôi đã làm, thực ra là đi xe đạp gắn máy lên một ngọn đồi trong khu phố lân cận," ông nói và cười một lần nữa. "Về thời gian thực hiện, có một nhóm lớn của những người bán hàng rong, những gì mà chúng ta gọi là các đại lý, ngay hôm ấy và thậm chí có một số nhà môi giới kiểu chợ đen rất đáng ngờ, tìm đến và chờ đợi ở đó. Họ sẽ nhồi nhét hai động cơ trong mỗi ba lô của họ và mang chúng đi về Tokyo, Osaka và khắp nơi trên đất nước. Sau khi họ ứng trước một số tiền. Tôi nhìn thấy một nắm tiền và nghĩ về mình, có vẻ như tôi chắc sẽ được trả lương tháng này, tiền lương của tôi sẽ không bị trì hoãn và tôi cảm thấy rất hạnh phúc".

'Ông lão' ngoài những công việc đã nổi tiếng với việc la mắng các nhân viên, nhưng trong những ngày ở Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda, chúng tôi đã thấy thêm nữa một khía cạnh khác. Ví dụ như một ngày kia, vợ ông Honda đã đến văn phòng của nhà máy Yamashita. Tôi chứng kiến, "Này tôi nghe nói rằng bà Honda đã đến đây, có chuyện gì vậy?" Người kế toán nói với tôi rằng bà ấy đã đến và hỏi thẳng ông ta: "'Ông lão' không chuyển bất kỳ món tiền nào vào tài khoản gia đình, vì vậy tôi không thể đi mua sắm. Tôi thực sự làm tiếc nhưng ông có thể bỏ ra cho tôi mượn một số tiền được không?" Đối với 'Ông lão', người lao động có quyền ưu tiên hưởng lương. Sau đó mới đến vợ và con của ông ta. Đó là hạng người của ông ấy".

"Tuy nhiên, đây là việc xảy ra trước khi công ty trở thành Honda Motor Co, Ltd.," Kawashima thêm vào. "Sau khi chúng tôi đã kết hợp thành tổng công ty, không còn việc gì giống như từng xảy ra. Trước đó, chi nhánh Art Shokai Hamamatsu mà 'Ông lão' đã hoạt động kinh doanh cá nhân của ông ấy đã thay đổi và trở thành một công ty độc lập. Tiếp đến sau đó, ông đã có vợ đến giúp đỡ tại văn phòng trong tất cả thời gian, nhưng khi nó đã thay đổi, dường như ông đã nói với vợ, "Từ ngày mai, bà không có bất kỳ liên hệ gì với công việc ở đây nữa. Đừng nói chuyện với tôi về điều đó và đừng đến văn phòng nữa". Ông ta hoàn toàn không pha trộn kinh doanh chính thức vào chuyện riêng tư, và ông ta đã không cho phép bất kỳ ai khác xen vào cả hai việc với nhau".
Photobucket

Photobucket
Xe Honda Cub F với những thiếu nữ đạp xe biểu diển trong việc khuyến mãi sản phẩm Honda vào đầu thập niên 1950 - với động cơ Honda 2 thì 50cc nặng 7 kí-lô, 1 mã lực cho phép tốc độ chiếc xe đạp đạt đến 35 Km/giờ

Ngay cả sau khi sản phẩm của Honda bắt đầu bán mạnh, thật không có vấn đề dễ dàng để xử lý những ngân sách cho Viện Nghiên Cứu Kỹ Thuật Honda. Hình như là các khoản tiền phải thu chồng chất thành đống. Tài khoản tài chính, đặc biệt là những gì chủ tịch Honda ghét phải đối phó với và những gì buộc ông phải thích ứng.

"Đó là một điều bí ẩn đối với tôi", Kawashima nói. "Khi nói đến giá thành sản phẩm, hiệu quả sản xuất tại nhà máy, ông là người nghiêm ngặt hơn bất cứ ai và cực kỳ hợp lý trong lối suy nghĩ của ông. Tuy nhiên khi gặp vấn đề liên hệ với việc bán hàng, ông không thể xử lý hoàn toàn công việc nầy".

Tất nhiên là các bộ máy cải tiến sẽ sớm bán sạch. Một cách tự nhiên, chủ tịch Honda đã chuẩn bị cho những gì sẽ tiếp theo sau. Những gì mà ông và nhân viên đều làm việc, tất nhiên, là sự phát triển động cơ sản xuất riêng của họ, một động cơ Honda chính hiệu.

Từ xe đạp gắn máy qua xe ô-tô

Mọi sự khởi đầu trong nước Nhật bại trận và bị tàn phá sau Đệ Nhị Thế Chiến 1939-1945, nhu cầu vận chuyển và đi lại như xe ô-tô quá thiếu thốn, không đáp ứng lại nhu cầu của đa số người lao động. Ông Soichiro Honda đã thu mua một số lớn thiết bị quốc phòng còn lại sau cuộc chiến như máy phát điện đem về cải tiến thành máy kéo hổ trợ sức kéo khi lắp ráp vào chiếc xe đạp - Sự thành công đến ngay lập tức cho kiểu máy gọi là Type A.

Đấy là một động cơ 50cc 2-thì kéo máy phát điện mà Quân Đội Hoàng Gia Nhật Bản đã sử dụng trong chiến tranh, ông Honda gắn động cơ nầy vào khung xe đạp, lắp dây kéo từ động cơ đến bánh sau để vận hành chiếc xe, kiểu xe mầy được đặt tên là Type A nhưng người sử dụng xe Honda nầy đặt tên là "ống khói" vì bộ máy 2-thì nhả ra quá nhiều khói.
Photobucket
Honda Dream Type D, một xe mô-tô đầu tiên của Honda sản xuất năm 1949 - động cơ 2 thì 96cc, 3 mã lực, hộp số có 2 số với bộ truyền động bằng dây sên, nặng 80 Kg, tốc độ 50 Km/giờ

Nhà máy Honda ở Hamamatsu phải hoạt động tối đa để đáp ứng lại nhu cầu của khách hàng. Có đến hơn 1.000 chiếc xe đạp gắn máy Type A xuất xưởng trong thời điểm ấy và đến ngày 24 tháng 9 năm 1948, ông Soichiro Honda thành lập công ty Honda Motor Co., Ltd. Kế thừa kiểu xe Type A là các kiểu Type B và C, riêng kiểu Type C là một phiên bản cải tiến với động cơ 89cc.

Thiên tài về cơ khí, Soichiro Honda lại kém khả năng điều hành và quản trị tài chính, vì vậy ông Takeo Fujisawa phụ trách công việc nầy và tiếp tay về việc thành lập và phát triển thị trường toàn quốc.

Ông Fujisawa gia nhập công ty Honda vào năm 1949 và trở thành "bộ phận không thể tách rời" với Soichiro Honda - cả hai người cùng lứa tuổi nên họ đã từ nhiệm để về hưu cùng lúc với nhau - Dưới sự hoạt bát của Fujisawa, công ty phát triển chính sách mới bằng việc phân phối sản phẩm qua các đại lý, qua năm 1950 Honda có trên dưới 5.000 đại lý trên toàn quốc.
Photobucket
Ông Soichiro Honda (trái) và ông Takeo Fujisawa (phải) cộng tác viên đắc lực của Soichiro, ngay từ ngày đầu đã thúc đẩy việc khuyến mãi những xe Honda Cub F trên toàn nước Nhật, Fujisawa cũng thúc đẩy ông Honda xuất cảng sản phẩm sang Mỹ Châu và Âu Châu.

Cũng trong năm 1949 khi ông Fujisawa đến cộng tác, Soichiro Honda cho ra mắt một xe mô-tô đầu tiên theo đúng tên của dòng xe: Honda Dream D - một xe mô-tô với cổ máy 49cc 2-thì với vòng máy tối đa 9.500 vòng/phút truyền động bằng dây sên. Với cấu trúc thực sự của một chiếc mô-tô 2 bánh trong khung sườn thép chắc chắn và huy hiệu Honda dưới hình cánh chim, người ta có thể đọc được hàng chử "The power of dream - Sức mạnh của ước mơ" nói lên viễn kiến của Soichiro Honda.
Photobucket
Xe Honda Dream Type E - một sản phẩm mới của Honda năm 1951 - động cơ 4 thì 146cc với 3 van nằm trên đầu xi-lanh, 5,5 mã lực, hộp số gồm 2 số và hệ thống giảm chấn ở hai bánh xe, tốc độ tối đa 82 Km/giờ

Nhưng kiểu mô-tô Dream D với tiếng máy nổ thường bị khách hàng chê bai nên qua năm 1951, Honda cho ra mắt kiểu Dream E, một xe mô-tô với động cơ 150cc 4-thì với 3 van trên đầu xi-lanh, động cơ nầy được xem là khá phức tạp vào thời điểm ấy. Kiểu Dream E cũng đánh dấu bước đi trường kỳ của Honda kể từ đó với động cơ 4-thì.
Photobucket
Honda Benly J năm 1953, mà động cơ được chế tạo để tham dự cuộc đua Isle of Man TT, kiểu xe nầy rất hoàn hảo trên đường trường theo đúng tên gọi Benly (tiếng nhật có nghiả là tiện nghi) - động cơ 4 thì 90cc với bộ van trên đầu máy, 3,8 mã lực với hộp số gồm 3 số

Liên tiếp sau đó, những kiểu xe mô-tô Honda nối tiếp cải tiến không ngừng - không chỉ nhắm vào thị trường nội địa, năm 1958, Honda thành lập công ty American Honda Motor Inc. tại California ở Hoa Kỳ và nhập cảng vào thị trường nầy những kiểu xe Dream và Benly (Benly tiếng nhật có nghiả là tiện nghi - phát âm trại ra là Bentley, một loại xe thể thao nổi tiếng vào thời điểm thập niên 1950), đặc biệt là kiểu xe Honda Super Cub C100 thích hợp với mọi túi tiền và giới trẻ ở Hoa Kỳ, kiểu xe nầy bán chạy trong suốt những năm cuối thập niên 1950 và kỷ lục đạt đến hàng trăm ngàn chiếc xe bán ra trong đầu thập niên 1960 qua chiến dịch quảng cáo "You meet the nicest people on a Honda" (xem bài Honda Super Cub tại Việt Nam).

Qua thập niên 1960, với sự thành công của Honda ở Hoa Kỳ, Soichiro quay mục tiêu qua việc sản xuất xe ô-tô.

Xe Honda N360 - ホンダ・N360

Soichiro Honda có ý tưởng sản xuất xe ô-tô trong đầu thập niên 1960, xuất thân từ kỹ sư cơ khí và đã từng làm việc ở chi nhánh Art Shokai tại thành phố Hamamatsu, Honda đã có nhiều kinh nghiệm về cơ khí ô-tô.

Trong bối cảnh nước Nhật phục hồi kinh tế sau chiến tranh, các tập đoàn và đại công ty quay sang việc sản xuất xe ô-tô và xe tải đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá. Trong số các hảng sản xuất xe ô-tô, những tên tuổi các doanh nghiệp nổi tiếng tham gia như Toyota, Mitsubishi, Isuzu, Mazda, Datsun, Nissan... còn có những doanh nghiệp sản xuất các loại xe hạng nhẹ như Daihatsu, Suzuki, Subaru... Thì có thể nói rằng Honda đã nhập cuộc sau cùng trong số các hảng chế tạo xe ô-tô tại Nhật Bản.
Photobucket 
Xe Honda S360

Photobucket
Honda S500 - 1963

Soichiro Honda thoạt đầu nhắm vào những dòng xe mà các hảng chế tạo xe khác của Nhật Bản "quên" không để ý đến và chiếc xe ô-tô Honda đầu tiên là chiếc xe Honda S360 Roadster vào năm 1962, chiếc xe nầy chỉ ở trong tình trạng xe mẫu thử nghiệm mà không được đưa vào sản xuất dây chuyền - chiếc xe thực sự ra mắt công chúng là chiếc Honda S500 dựa trên mẫu xe S360 vào năm 1963 - là một xe thể thao 2 chổ ngồi có hình dáng tựa như chiếc Triumph TR4 của Anh Quốc với chiều dài nhỏ hơn 3,3 mét - S500 được trang bị động cơ 4 xi-lanh, 531cc với 4 bộ chế hoà khí và 2 trục cam trên đầu máy - bộ truyền động được kéo bằng dây sên như xe mô-tô, xe nặng 680 kí-lô và đạt tốc độ tối đa 129 Km/giờ. Sự thành công của loại xe thể thao nầy khiến Honda sau đó nhanh chóng cải tiến thành kiểu xe S600 và S800 chinh phục thị trường thế giới.
Photobucket
Honda S800 (trái) và Honda S600 Hardtop (phải)

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Honda N360

Dòng xe thứ hai mà Soichiro Honda nhắm đến là loại xe du lịch cực nhẹ và nhỏ chở được 4 người mà người Nhật gọi là keijidōsha (軽自動車 - xe hạng nhẹ) hay còn gọi là Kei Car hoặc K-Car, ở Pháp Quốc được gọi là dòng xe "midget". Xe Honda N360 ra đời vào năm 1967 do mã hiệu N (Norimono tiếng nhật có nghiả là xe kiệu), xe dòng N360 được sản xuất đến năm 1970 và còn có kiểu xe thùng LN360 được ra mắt vài tháng sau kiểu N360.
Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Những trang quảng cáo và khuyến mãi xe Honda N360 trên những tạp chí ở Nhật Bản

Khác với dòng xe S360 và S500 ban đầu của Honda, chiếc N360 trông tựa như kiểu xe Mini Mk I (Austin Mini 850) của Anh Quốc (do BMC - British Motor Corporation sản xuất dưới 2 thương hiệu Austin và Morris) được trang bị một động cơ biến cải từ động cơ xe mô-tô Honda CB450 với dung tích máy 354cc, 2 xi-lanh với 1 trục cam trên đầu máy, mát máy bằng gió - bộ truyền động với 4 số tay hoặc 3 số tự động, với sức mạnh 31 mã lực xe đạt tốc độ tố đa là 115 Km/giờ. Chiều dài xe gần 3 mét, cân nặng từ 475 đến 520 kí-lô tùy theo kiểu.
Photobucket
Một xe Morris Mini do British Motor Corporation sản xuất

Photobucket
Bộ máy Honda N360 (trái) và Honda CB450 (phải)

Photobucket

Photobucket
Chi tiết cề cấu trúc khối động cơ và khoang máy trên xe Honda N360

Xen vào giửa kiểu xe N360 là kiểu xe cải tiến N400 và N600 được sản xuất từ năm 1968 đến 1972, trong đó xe N600 sau nầy là dòng xe Honda Civic nổi tiếng. Vào tháng giêng năm 1970, chiếc N360 được nâng cấp với nhiều chi tiết cải tiến, được gọi là NIII360 và tiếp tục sản xuất đến năm 1972 và được thay thế bở dòng xe Honda Life. Có tất cả 1.165.144 xe kiểu N đủ loại xuất xưởng đến cuối năm 1972.
Photobucket
Xe Honda N360 AT với hộp số tự động

Photobucket
Xe Honda N360 Sunroof với mui kính đóng mở được

Photobucket
Xe Honda NIII360

Photobucket
Kiểu cuối cùng của dòng xe N360: Xe Honda NIII360 Town

Xe Honda N360 được nhập vào miền nam Việt Nam vào cuối thập niên 1960, giá bán ngang ngửa với xe Citroën 2CV nên hợp với các gia đình trung lưu ít con và sinh sống ở các thành phố. Về việc bảo trì thì dể dàng do động cơ được làm mát bằng gió, ít cơ phận hơn động cơ mát máy bằng nước. Về việc lưu thông ở thành phố được dể dàng vì chiều dài của xe dưới 3 mét và tiện lợi cho giới tiêu dùng có nhu cầu di chuyển dưới 100 Km/ngày.
Photobucket

Photobucket
Một xe Honda N360 được phục chế ở Châu Âu

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Một xe Honda N360 còn trong tình trạng tốt ngày nay ở Việt Nam

Gần đây, trong cuộc triển lãm xe ô-tô tại Tokyo vào năm 2009, công ty Honda trình bày một mẫu xe tựa như xe N360 - dòng xe Honda EV-N hoàn toàn sử dụng điện năng nhưng chưa thấy được đưa vào quy trình sản xuất và bán ra thị trường.
Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Một Concept Car được ra mắt trong Hội Chợ Triển Lãm xe Ô-tô tại Tokyo năm 2009 - Xe Honda EV-N có hình dáng của xe N360 nhưng sử dụng động cơ điện và bình điện Lithium
Được tạo bởi Blogger.