Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Xe máy cổ điển Nhật Bản vào thập niên 1950

Phòng trưng bầy xe mô-tô tại Asama Memorial Cottage - Nhật Bản

Bây giờ, không nhiều người nhận ra rằng ngành công nghiệp xe máy Nhật Bản thực sự đã hơn 100 năm tuổi. Về mặt kỹ thuật, nó có thể được truy cập trở về chiếc xe đạp có động cơ hỗ trợ đầu tiên được nhập khẩu vào quốc gia trong năm 1896, nhưng chỉ 10 năm sau đó, đã có một số kỹ sư tài năng chế tạo loại xe đạp 2 bánh có động cơ hỗ trợ đằng sau sân nhà, như ông Shimazu Narazo, người đã chế tạo bộ khung xe và động cơ của ông ta trong năm 1909. Vào cuối thập niên 1930, trái ngược với hầu hết các sách lịch sử xe máy tôi đã đọc, Nhật Bản thực sự đã có một nền công nghiệp xe máy phát triển mạnh mẽ với hơn 50 nhà sản xuất sản xuất tất cả mọi thứ từ xe đạp cơ giới 20cc đến các loại xe Harley-Davidsons sản xuất nhượng quyền. Vì có nhu cầu về loại xe giá rẻ, về sự giao thông chắc chắn bên ngoài thành phố, nơi mà cơ sở hạ tầng đường xá thật nghèo nàn.
Trong thành phố, cũng có những đám thanh niên yêu chuộng xe máy thích khoe khoang, phô diễn (tonori) và đua xe và cũng để đáp ứng nhu cầu của quân đội Hoàng gia, xe Harley-Davidson đã được xuất khẩu sang Nhật Bản từ năm 1917! Ngoài ra còn có những câu lạc bộ yêu chuộng lái xe gắn máy ngày càng tăng, trên thực tế đã có hơn hai mươi câu lạc bộ hoạt động từ năm 1920 và ít nhất ba tạp chí chuyên về xe máy. Nhật Bản cũng đã chứng kiến các cuộc ​​đua xe gắn máy tương tự như các cuộc đua được tổ chức tại châu Âu, Mỹ và Úc châu - đua trên trường đua ngựa và trường đua xe, đua trên đường chạy băng đồng và trên các đường vòng quanh công viên và hồ đều trở thành phổ biến và cũng có một số đề án xây dựng sân vận động như trường đua Speedway Tamagawa. Xe máy vào thời điểm đó đã được biết đến như Tetsuba (Ngựa sắt) hoặc Nirinsha (chỉ đơn giản là hai bánh xe), một thuật ngữ tiếng lóng sau đó được sử dụng để mô tả xe máy là Tansha, xuất phát từ chử jidojitensha có nghĩa là chạy xe đạp.

Cảnh xe máy nhộn nhịp hầu như dừng lại ngay sau khi Nhật Bản nhảy vào Thế chiến thứ 2, mặc dù có một hoặc hai công ty đã tiếp tục cung cấp xe cho quân đội trong chiến tranh. Thật không may, một trong số họ, Kuro Hagane, có nhà máy sản xuất của họ ở Hiroshima.

Sau sự kiện đầu hàng chiến tranh, Nhật Bản đã phải từ từ xây dựng lại. Các lực lượng chiếm đóng của Hoa Kỳ đã bắt đầu bày trò giải trí với nhau (và cùng với người dân địa phương) bằng cách tổ chức các cuộc đua xe máy nghiệp dư và ngành công nghiệp xe 2 bánh gắn động cơ mới bắt đầu nổi lên cũng như quốc gia bắt đầu chổi dậy một lần nữa. Một số tên tuổi trước chiến tranh như Meguro và Miyata trở lại sản xuất xe gắn máy và nhiều tên tuổi mới tham gia công cuộc, một số nguồn cảm hứng vẽ từ thiết kế các xe Anh và Đức, những thương hiệu khác, như Honda và Bridgestone, bắt đầu từ từ bằng việc mua lại các động cơ công suất nhỏ dư thừa từ quân đội  và lắp đặt vào xe đạp. Vào cuối những năm 1940, Nhật Bản đã bước vào cuộc cách mạng Giao thông lần thứ 2, nhưng lần này, chiến tranh ở cuối trời là một cuộc chiến xe gắn máy! - Với hơn 100 nhà sản xuất xe hai bánh có động cơ hổ trợ, tất nhiên là có hàng tá thương nghiệp sập tiệm, và như những cuốn sách lịch sử đã chứng minh, khoảng một chục công ty sống sót sau năm 1950 và trong số đó, chỉ có "tứ đại gia" Honda , Kawasaki, Suzuki và Yamaha vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Moto Freako
Xe máy đua xe tại Speedway Tamagawa, tháng 11 năm 1949.

Những bức ảnh sau đây là từ Asama Memorial Cottage, tại chân núi Asama, quê hương huyền thoại về đường đua đồng đất mà cũng là phiên bản Nhật của vòng đua nổi tiếng Isle of Man TT (Anh quốc). Xe máy trưng bầy ở đây là tất cả xe từ những năm 1950 và được sản xuất bởi các công ty hầu như không ai biết ở phương Tây, và bạn có thể thấy, người Nhật đã sản xuất một số xe ngon lành vào thời điểm đó, quá đủ đáp lại câu nói nhầm lẫn nổi tiếng của Edward Turner* - "Chúng tôi không có gì sợ từ Nhật Bản ".

Moto Freako
ASAHI FA-II / 1954 - 250cc; 7.6 mã lực với 4200 vòng máy/phút.
Asahi được sản xuất bởi công ty Miyata Seisakusho Tokyođã sản xuất xe máy từ năm 1933. 
Xe Asahi AA năm 1933  loạt xe máy đầu tiên sản xuất  Nhật Bản.

Moto Freako
CABTON RBH / 1954 - 350cc; 16 mã lực với 5500 vòng máy/phút.

Moto Freako
 COLLEDA ST5 / 1957 - 123cc; 7.5 mã lực với 5500 vòng máy/phút:
Colleda  SJK  cả hai thương hiệu được sử dụng bởi công ty Suzuki Loomsau này trở thành xe máy Suzuki.

Moto Freako
HOSK DB / 1958 - 498cc máy song đôi; 26 mã lực với 5200 vòng máy/phút:
Xe Hosk đã dựa gần giống như loại xe Horex Đức 500 và được sản xuất theo tiêu chuẩn rất cao.

Moto Freako
LILAC LS18II / 1960 - 247cc máy đôi hình chử V; 19.5 mã lực với 7800vòng máy/phút:
Lilac sản xuất một số máy đôi hình chử V rất tiên tiến và cũng sản xuất ra xe Marusho Magnum 500cc đã được xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong thập niên 60.

Moto Freako
MEGURO Z7 / 1959 - 498cc; 20 mã lực với 4400 vòng máy/phút:
Meguro sau cùng trở thành một bộ phận của tập đoàn Kawasaki  thiết kế của họ là cơ sở của xe máyđộng cơ 4 thì đầu tiên được sản xuất bởi KawasakiCác xe Meguro Z7  Z97  rất phổ biến vì phong cách theo kiểu châu Âu  hiệu suất tương đối cao.

Moto Freako
RIKUO / 1958 - 750cc OHV V-Twin:
Harley-Davidson cho phép Sankyo Nainenki sản xuất nhượng quyền xe Flathead kiểu VL HD tại Nhật Bản vào đầu những năm 1930 để đáp ứng với nhu cầu của quân đội Hoàng gia. Đến năm 1937 công ty đã được đổi tên thành Rikuo - (dịch ra sơ sài là Vương Lộ hay là Vua của đường xá). Trong Thế Chiến thứ 2, người Mỹ đã quay về xứ  Nhật Bản tiếp tục sản xuất xe VL dưới tên RikuoGiữa năm 1937 và 1942 có trên 18000 xe máy Rikuo đã cung cấp cho quân đội. Rikuo ngừng sản xuất vào năm 1958.

Moto Freako
TOHATSU PA55 / 1955 - 80cc; 3.5 mã lực với 4800rpmvòng máy/phút:
Tohatsu sản xuất xe với một số chi tiết kỹ thuật rất caomáy có công suất nhỏ, trong đó có xe đua nổi tiếng Tohatsu Runpet.

Tohatsu vẫn đang sản xuất động cơ ngày nay, chủ yếu là để sử dụng trong nông nghiệp  tàu thuyền.

Moto Freako
YAMAHA YA1 / 1957 - 125cc; 5.6 mã lực với 5000 vòng máy/phút:
Yamaha là một trong "tứ đại gia", những công ty còn sống sót trong"chiến tranh xe máy" của Nhật Bản.

Đây là nỗ lực đầu tiên của họ về sản xuất loại xe off-road băng đồngNhững cuốn sách lịch sử về xe cho chúng tôi biết rằng DT1 là loại xe máy đầu tiên off-road đặc biệt riêng của họnhưng nhà máy sản xuấtloại xe đặc biệt nầy gọi là Akatombo (Red Dragonfly - chuồn chuồn đỏ) với việc thay đổi đầu, bộ nhún bánh trước và bộ bảo vệ bằng hợp kim nhẹ đã được đem ra chạy đua ở Asama trong thập niên 1950.

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Xe Mercedes-Benz 770

Cách đây trên 70 năm, khi kỹ nghệ xe ô-tô mới vừa trên 50 năm - đã có chiếc xe bọc thép gần 5 tấn chạy trên đường với tốc độ 200 km/giờ - chuyện khó tin? không phải vậy, Đức Quốc là nước đầu tiên xây dựng hệ thống đường xá cao tốc “Autobahn” trước Đệ Nhị Thế Chiến và nhà sản xuất xe quen thuộc không ai khác hơn là Mercedes-Benz.

Mercedes-Benz 770

Chiếc xe Mercedes-Benz 770 còn được gọi là Großer Mercedes (xe Mercedes rộng rải) là một loại xe ô-tô cao cấp được chế tạo bởi công ty Mercedes-Benz từ năm 1930 đến năm 1943. Có lẽ người ta biết đến chiếc xe nầy qua những phim ảnh tài liệu về những nhân vật cao cấp Đức Quốc Xã trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, kể cả Adolf Hitler và Hermann Goering.
ercedes-Benz 770

Chiếc xe Mercedes-Benz 770 còn được gọi là Großer Mercedes (xe Mercedes rộng rải) là một loại xe ô-tô cao cấp được chế tạo bởi công ty Mercedes-Benz từ năm 1930 đến năm 1943. Có lẽ người ta biết đến chiếc xe nầy qua những phim ảnh tài liệu về những nhân vật cao cấp Đức Quốc Xã trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, kể cả Adolf Hitler và Hermann Goering.

Loại xe đợt 1 - W07 (1930-1938)

Photobucket
Chiếc Mercedes-Benz 770F - 1932 được sử dụng bởi vua Wilhelm II khi lưu đầy.

Chiếc 770 sản xuất vào năm 1930 với mã hiệu W07, được nhiều nguyên thủ quốc gia thời ấy sử dụng chính thức như công xa.

Xe 770 (với mã hiệu W07) được thiết kế một động cơ 8 xy-lanh thẳng hàng với dung tích tổng cộng là 7.655 cm3 với bộ van đóng mở trên đầu và bộ pít-tông bằng nhôm, cổ máy này có công xuất 150 mã lực với sức máy quay ở 2.800 vòng/phút và không có bộ phận tiếp sức máy. Một bộ phận ép hơi vào buồng máy kiểu Roots giúp cho động cơ tăng thêm sức mạnh đến 200 mã lực ở 2.800 vòng/phút có thể đẩy chiếc xe lên tốc độ trên 160km/giờ. Hộp số có 4 số tiến với số 3 dùng khi chạy bình thường và số 4 để dùng chạy đường trường.

Photobucket
Một chiếc Mercedes-Benz 770 (W07) Tourer - 1937

Kiểu W07 là loại xe cổ điển với bộ khung xe được treo lên bộ giàn bởi những cơ phận lò-xo và lá thép uống hình vòng cung trên trục bánh trước và sau. Kích cở có thể khác nhau từ chiếc xe nầy qua chiếc xe khác, tuy nhiên bộ giàn vẫn cùng kích cở giữa 2 trục bánh là 3,750 mét và chiều ngang của 2 trục bánh bằng nhau 1,500 mét.

Có tất cả 117 chiếc xe Mercedes-Benz 770 kiểu đời 1 - W07 được chế tạo.

Loại xe đợt 2 - W150 (1938-1943)

Chiếc Mercedes-Benz 770 được chỉnh trang vào năm 1938 với những thiết kế mới với mã hiệu W150. Bộ giàn xe hoàn toàn mới làm bằng những ống thép bầu dục và khung xe được nối với giàn bằng những bộ lò-xo vòng quanh. Bộ nhún giảm chấn trước với những cơ phận biệt lập và bộ nhún sau theo kiểu trục De Dion.

Photobucket
Chiếc Mercedes-Benz 770K (W150 II) tại Bảo Tàng Malartre, ngoại thành Lyon.

Động cơ cũng gần như giống kiểu W07 nhưng được tăng thêm chút ít sức mạnh với 155 mã lực khi máy quay ở 3.000 vòng/phút và với bộ ép khí vào buồng máy Roots Kompressor giúp sức máy lên đến 230 mã lực ở 3.200 vòng/phút. Hộp số gồm 5 số tiến với số 4 chạy bình thường và số 5 chạy đường trường.

Photobucket
Dụng cụ và tay lái một chiếc 770K sản xuất năm 1938.

Có tất cả 88 chiếc xe W150 và W150 II được chế tạo trước khi nhà máy ngưng sản xuất kiểu 770 vào năm 1943.

Chiếc Mercedes-Benz 770K (W150 II)

Tên gọi 770K dành cho loại xe đợt 2 - W150 II bọc thép chống đạn với hai bộ máy ép hơi vào buồng đốt Roots Kompressors và hai bộ đánh lửa bu-gi cải tiến làm tăng công suất máy và không thể bị liệt máy.

Photobucket
Chiếc xe 770K tịch thu từ Nid d’aigle của Hitler tại Berchtesgaten.

Photobucket
Chiếc xe nầy của Hitler thường xuyên được sử dụng bởi Eva Braun.

Photobucket
Bên hông phải xe có 2 ống dẫn hơi Turbo Kompressors.

Kiểu 770K với kích cở đáng nể vào thời điểm của thập niên 30: chiều dài gần 6 mét (5980mm), chiều cao 1,9 mét với mui bọc vải, khoảng cách giửa 2 trục bánh 3,88 mét, thùng xe cách mặt đất 200mm, và chiều rộng 2100mm, bánh xe cở 8 ¼ x 17.

Với sàn xe làm bằng thép tôi luyện đặc biệt dầy 5,5 đến 6mm tráng manganèse chống rỉ sét và thùng xe dầy 3mm, chiếc 770K có thể chịu đựng sức nổ của những quả mìn nhỏ hoặc những tràn đạn tiểu liên không hề hấn gì. Kính chắn gió, kính cửa với chiều dầy 43mm với 10 lớp kính đặc biệt dán lại với nhau có thể chịu được đạn bắn không thủng.

Photobucket
Chiếc 770K trưng bày tại bảo tàng Malartre - Rochetaillée-sur-Saône.

Photobucket
Cửa kính được thử bắn bằng tiểu liên, trong kính còn gim một đầu đạn súng lục.

Photobucket
Mui vải tráng nhựa không thấm nước. Bánh xe với 20 túi hơi. Những kỹ thuật tiên tiến mà Đức quốc đã áp dụng vào việc bảo vệ những nhân vật quan trọng vào thời điểm ấy.

Thiết kế nội thất của xe với những ghế ngồi bằng da và cách biệt với những tay dựa có thể cất đi. Đằng sau ghế trước có 3 ghế ngồi phụ gấp xếp lại, chiếc xe có thể chở đến 9 người.

Trái với loại xe 770 đợt 1 và 2 với mức tiêu thụ 27 lít xăng/100 Km với thùng xăng 195 lít; chiếc xe bọc thép dành cho Hitler tiêu thụ 60 lít xăng/100 Km - bình xăng chứa được 300 lít và xử dụng loại xăng tổng hợp đặc biệt (synthetic fuel) sản xuất tại Đức Quốc.

Photobucket
Một góc nhìn từ phiá trước chiếc 770K (W150 II) của Hitler.

Photobucket
Cờ Quốc Xã của Fuhrer được giử nguyên trạng ở thời Hitler.

Chiếc xe Mercedes-Benz 770K (W150 II) được sản xuất đặc biệt với 8 chiếc có 2 Turbo Kompressors với sức ép 7,2/1 đưa sức mạnh động cơ lên 400 mã lực thừa sức kéo chiếc xe bọc thép nặng đến 4.800 kí-lô với tốc độ tối đa 200 km/giờ. Bánh xe với buồng hơi đặc biệt gồm 20 túi hơi để chống mìn và đạn. Cửa bọc thép dầy 125mm, mổi cửa nặng gần 160 kí-lô. Hitler sử dụng tất cả 5 chiếc xe 770K trong 8 chiếc được sản xuất đặc biệt cho các lãnh đạo Đức Quốc Xã.

Photobucket
Viếng thăm bảo tàng xe Malartre - Rochetaillée-sur-Saône.

Photobucket
Khu xe cổ tại bảo tàng Malartre - Rochetaillée-sur-Saône.

Chiếc MB 770K mà tôi thăm viếng ở bảo tàng Malartre - Rochetaillée-sur-Saône là chiếc xe dành riêng cho Hitler, tịch thu tại Berchtesgaden vùng Bavaria, 30 Km gần Salzburg, Áo Quốc, còn gọi là “Tổ chim ưng” (Nid d’aigle) nơi cư ngụ thứ hai của Hitler chiếm đóng bởi quân Đồng Minh sau khi Đức Quốc Xã bại trận.
Được tạo bởi Blogger.