Hiển thị các bài đăng có nhãn 1961. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1961. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016
Xe Kawasaki đầu tiên tại Việt Nam
Logo trên bình xăng một xe Kawasaki cũ.
Nằm trong kế hoạch cơ giới hoá cho nhân viên công chức và quân nhân phục vụ tại miền nam Việt Nam, chính phủ VNCH cho phép nhập cảng những chiếc xe 2 bánh nhật bản vào thị trường xe máy, một trong những xe 2 bánh nhập vào VN giửa thập niên 1960 là xe Kawasaki.
Nằm trong kế hoạch cơ giới hoá cho nhân viên công chức và quân nhân phục vụ tại miền nam Việt Nam, chính phủ VNCH cho phép nhập cảng những chiếc xe 2 bánh nhật bản vào thị trường xe máy, một trong những xe 2 bánh nhập vào VN giửa thập niên 1960 là xe Kawasaki.
Sơ lược lịch sử xe 2 bánh Kawasaki - カワサキオートバイ
Tập đoàn kỹ nghệ nặng Kawasaki (Kawasaki Heavy Industries) phục hồi từ đám tro tàn sau Đệ Nhị Thế Chiến 1939-1945, một trong những công nghệ của tập đoàn nầy là chi bộ cơ khí, từ chi bộ nầy Kawasaki nhập cuộc vào chiến tranh xe máy tại Nhật Bản kéo dài gần 3 thập niên, Kawasaki là một trong 'tứ đại gia' xe máy Nhật Bản tồn tại đến ngày nay sau khi các hảng xe máy khác bỏ cuộc, nhường chổ lại cho tập đoàn Kawasaki cũng như Honda, Suzuki và Yamaha.
Hai kiểu máy bay vận tải Kawasaki C-1 (trên) và C-2 (dưới) chế tạo theo nhu cầu đòi hỏi của Quân đội Hoàng gia Nhật Bản
Máy bay huấn luyện 2 chổ ngồi Kawasaki T-4 dưới mầu sắc Đội Blue Impulse của Không Quân Hoàng Gia Nhật Bản
Shōzō Kawasaki thành lập công ty vào năm 1896 tại Kobe, sau được biết đến với tên gọi là Tập đoàn Kawasaki Heavy Industries (川崎重工業株式会社 - Kawasaki Jūkōgyō Kabushiki-gaisha). Kawasaki với những hoạt động về công nghiệp như đóng tầu thủy, tầu hoả và xe điện, nhà máy điện, xe kéo, động cơ nhỏ dùng trong các công nghệ cơ khí. Kawasaki cũng là công ty sản xuất máy bay chiến đấu cánh quạt cho quân đội hoàng gia Nhật Bản trong Đệ nhị Thế chiến 1939-1945 mà ngày nay chi bộ hàng không Kawasaki đảm nhận việc chế tạo nhượng quyền những máy bay và trực thăng của Hoa Kỳ cùng những máy bay thiết kế bởi Kawasaki như máy bay vận tải C-1 và C-2 dùng trong quân đội, máy bay phản lực huấn luyện T-4 cho không quân hoàng gia Nhật, những thiết bị về máy bay và cơ phận rời cho các công ty Boeing, Embraer (Empresa Brasileira de Aeronáutica) và hợp tác cùng MBB (Messerschmitt-Bölkow-Blohm) trong việc sản xuất máy bay trực thăng.
Một bộ máy KE-1 chế tạo dành cho xe gắn máy vào năm 1952, động cơ nầy được chi bộ Kawasaki Machine Industry thiết kế.
Bộ máy KB-5 do chi bộ Kawasaki Aircraft Company thiết kế và chế tạo tại Kobe. Bộ máy nầy được các công ty sản xuất xe máy sử dụng và là bộ máy cơ bản mà Kawasaki sau nầy sử dụng để chế tạo và sản xuất các dòng xe Kawasaki.
Một xe mô-tô do hảng Meihatsu chế tạo, lắp ráp động cơ KB-5 của Kawasaki: xe Meihatsu 125cc sản xuất vào năm 1955
Một kiểu xe khác sử dụng động cơ Kawasaki KB-5: Meihatsu 125 Deluxe (1955)
Ngoài ra Kawasaki còn có các chi bộ sản xuất những thiết bị điện tử dùng trong công nghệ quốc phòng, các phi đạn và hoả tiển sử dụng trong quân đội, các thiết bị sử dụng trong không gian như "Kibo" trên trạm International Space Station (ISS), các máy móc cơ khí rô-bô tự động dùng trong kỹ nghệ, các loại máy biến chế và xử lý rác thải, máy khoan và đào hầm... Có tất cả gần 50 công ty con của tập đoàn Kawasaki trên thế giới.
Meguro S3 250cc tại Nhật Bản dựa trên mẩu mã xe mô-tô Anh Quốc BSA A7
Một xe Meguro S3 với bánh sau đặc biệt dùng để tải hàng nặng ở Hoà Lan
Meguro Z7 500cc chế tạo theo kiểu xe BSA Anh Quốc được xem là phiên bản BSA A7 sao chép với giá rẻ, thật ra chất lượng xe Meguro Z7 có thể xem là ngang ngửa với xe chính hiệu BSA.
Năm 1960, Kawasaki ký thỏa thuận để tiếp nhận hảng chế tạo xe mô-tô Meguro, một công ty giử vai trò đáng kể trong việc kinh doanh và sản xuất xe mô-tô mới ra đời của Nhật Bản. Meguro là một trong những công ty Nhật Bản chỉ sản xuất một kiểu xe 500cc. Ở Vương quốc Anh, kiểu xe Meguro 500 nhập cảng trong thập niên 1950 nhìn rất giống với kiểu xe Anh Quốc BSA A7 - mà người ta chế nhạo như một bản sao BSA giá rẻ. Trong thực tế, Meguro 500cc là một chiếc xe mô-tô chất lượng rất cao.
Xe sản xuất nguyên chiếc đầu tiên: Kawasaki 125cc B8 năm 1961
Một xe Kawasaki 125cc B8 (bên phải) được trưng bày bên cạnh xe Meguro-Kawasaki 250 SG
Năm 1961, Kawasaki sản xuất toàn bộ xe mô-tô nguyên chiếc đầu tiên: xe Kawasaki động cơ 2-thì 125cc B8. Năm 1962, Kawasaki ra mắt công chúng với các kiểu xe từ 50 đến 250cc. Một kiểu xe với động cơ 2-thì van hút xoay vòng 250cc "Samurai" rất được ưa chuộng ở Hoa Kỳ.
Một số xe Kawasaki sản xuất năm 1966: từ 50cc đến 500cc
Dây chuyền lắp ráp xe Kawasaki tại Nhật Bản năm 1960
Xe Anh Quốc BSA A10 Super Rocket
Xe Kawasaki 650W1 (1966) dựa trên mẩu xe BSA A10 là một thành công lớn của Kawasaki chinh phục thị trường xe mô-tô tại Hoa Kỳ trong thập niên 1960.
Năm 1966, xe Kawasaki 650W1 được ra mắt công chúng và là chiếc xe lớn nhất được sản xuất tại Nhật Bản vào thời điểm đó. Kawasaki 650W1 dựa theo mẩu mã của chiếc BSA A10. Trong vài năm sau kiểu xe nầy được thiết kế với bộ chế hoà khí đôi và ống pô vắt được gọi là kiểu 'Scrambler'.
Một xe Kawasaki 650 W1SS (phải) và xe Kawasaki 650 W2TT Scrambler (trái).
Năm 1969, tay đua xe Dave Simmonds đã dành cho tập đoàn Kawasaki chức vô địch thế giới đầu tiên trong loại xe 125cc.
Dave Simmonds (tay đua cũ của hảng xe Tohatsu) trên yên xe Kawasaki 125cc KR1 trong cuộc đua ở Isle of Man TT đã đoạt giải vô địch thế giới hạng 125cc năm 1969 đưa danh tiếng Kawasaki vào thị trường xe mô-tô
Xe Kawasaki H1R 500cc, một kiểu xe đua được bán ra thị trường 1969-1976
Xe đua Kawasaki A7R 350cc năm 1968
Sự nổi bật của xe Kawasaki H1 (hay còn gọi là Mach III, ở Pháp gọi là xe Kawasaki 3 pattes - xe máy 3 cẳng) 500cc ba xi-lanh hai thì được ra mắt. Mặc dù kiểu xe nầy về kỹ thuật thiết kế còn bất cập, động cơ 3 xi-lanh của nó rất mạnh mẽ trong thời điểm đó. Đó là một trong những chiếc xe sản xuất đạt tốc độ nhanh nhất trong kỷ lục khởi hành ở 1/4 dặm (khoảng 400 mét). Chiếc xe Mach III rất nổi tiếng tại Hoa Kỳ của tập đoàn Kawasaki (đặc biệt, nó nổi tiếng về bộ máy rất mạnh và tính năng khác thường so với dòng xe mô-tô cổ điển!) Một kiểu xe đua tuyệt vời H1R cũng được ra mắt - một xe đua 500cc được sản xuất và bán ra thị trường với số lượng nhỏ đến năm 1976.
Xe Kawasaki 750-SS phát triển từ kiểu xe 3 xi-lanh 2-thì S2 350cc Mach III đầu tiên
Trong vài năm kế tiếp, phiên bản lớn hơn và nhỏ hơn của Kawasaki H1, bao gồm S1 (250cc) S2 (350cc) và H2 (750cc) sẽ được tung ra thị trường. Kawasaki đã thành công trên thị trường xe mô-tô và chiếc Kawasaki kiểu xe đua H2R 750cc được sản xuất nổi tiếng trên các đường đua, nhưng Kawasaki tiên liệu đuợc những ngày của loại xe mô-tô đường trường động cơ hai thì đang đến hồi kết.
Xe Honda CB-750 Four với bộ máy 4 xi-lanh 4-thì được tung ra thị trường đầu tiên vào năm 1969 nhằm đánh bạt Kawasaki khi biết Kawasaki sẽ tung ra thị trường một kiểu mô-tô động cơ 4-thì, thật ra chiếc CB-750 ra mắt vội vàng nên có ít nhiều khuyết điểm chẳng hạn như bộ thắng đỉa bánh trước ít hiệu quả mà sau nầy Honda đã điều chỉnh bằng cách thay bộ thắng đỉa kép.
Kế hoạch công ty là chú tâm vào việc sản xuất xe mô-tô động cơ bốn thì, mục tiêu bị rúng động bởi sự xuất hiện của chiếc Honda 750 Four buộc Kawasaki quay trở lại bàn vẽ.
Xe Kawasaki Z1 900cc
Năm 1973, Kawasaki cho ra lò kiểu xe mô-tô lớn với động cơ 4-thì kể từ khi kiểu W1 ra mắt, kiểu xe 900cc Z1 với những tính năng vượt qua kiểu Honda 750 Four với động cơ 4 xi-lanh 4-thì 900cc, thiết kế với hệ thống DOHC 2 trục cam trên đầu máy và 4 bộ chế hoà khí Mikuni 28mm, 82 mã lực với 8.500 vòng quay máy, công suất tối đa 7,5 mkg ở 7.000 vòng máy/phút.
Một kiểu xe dành cho phụ nữ: Kawasaki 50 Pet năm 1961
Kawasaki 85-J1
Kawasaki 90-G1L năm 1966 là kiểu xe cùng thời với xe Kawasaki M10 bán tại Việt Nam, do tiết kiệm việc sản xuất cơ phận rời, những kiểu xe 50cc, 55cc, 60cc, 85cc và 90cc năm 1966 dùng chung bộ sườn thép lá rập khung.
Từ kiểu Kawasaki Z1 900cc, những kiểu xe kế tiếp dựa theo mẩu mã Z1 đã chiếm vị thế cao trên thị trường xe mô-tô máy lớn như chiếc Kawasaki Z-1000. Từ đó Kawasaki đã không ngớt phát triển các dòng xe GPz-550, GPz-900R 'Ninja' năm 1983, ZX-11 với động cơ 1052cc năm 1990, ZX-12R năm 2000, ZX-14 với động cơ 1352cc năm 2008. Mặt khác Kawasaki cũng phát triển dòng xe chạy băng đồng với các kiểu xe 125cc, 250cc và 350cc.
Xe Kawasaki 50cc tại Việt Nam
Năm 1966, sau các đợt xe Honda và Suzuki nhập cảng vào miền nam VN, cục Quân Tiếp Vụ của Quân Lực VNCH cho nhập duy nhất một kiểu xe Kawasaki 50cc M10 mặc dù có những kiểu xe Kawasaki khác như M50 Step-thru hoặc các xe có dung tích máy lớn hơn 50cc.
Xe Kawasaki M50 Step-Thru 1966, kiểu xe nầy không được nhập cảng vào Việt Nam
Xe Kawasaki M10 (phải) và Kawasaki M50 (trái), chiếc M50 nầy được thiết kế đặc biệt cho việc chuyên chở hàng hoá
Từ bộ sườn xe mà Kawasaki sản xuất dùng chung cho các kiểu xe 50cc, 55cc, 60cc, 85cc và 90cc. Do đó kiểu xe M10 nhập cảng với sườn xe nặng nề so với bộ máy 50cc 2-thì cổ điển nên hiệu năng của kiểu xe nầy rất kém so với các xe Nhật nhập vào Việt Nam trong thời điểm đó.
Kawasaki 50cc M10 một chổ ngồi
Đặc tính xe Kawasaki 50 M10: máy 1 xi-lanh 2-thì, mát máy bằng gió - dung tích xi-lanh 50cc - 4,5 mã lực với vòng máy 7.500 vòng/phút - hộp số gồm 3 số xoay vòng - dài 183 cm, cao 65 cm, rộng 94,5 cm - khoảng cách giửa 2 trục bánh 116 cm - dung tích bình xăng 7 lít pha nhớt - nặng 66 ki-lô - tốc độ tối đa 64 km/giờ.
Kawasaki M10 hai chổ ngồi, kiểu nầy được sử dụng tại Việt Nam
Vài chi tiết về xe Kawasaki 50cc M10
Kiểu xe Kawasaki 50cc M10 bán ra vài ngàn chiếc rồi ngưng vì không có ai muốn mua cổ xe nặng nề, hình dáng thô kệch và động cơ yếu ớt so với các xe Honda, Suzuki, Yamaha và Bridgestone có mặt trên thị trường xe máy tại Việt Nam trong thập niên 1960. Mặc dù tham gia vào cuộc chiến chậm chạp nhất trong bộ 'tứ đại gia' xe máy Nhật, Kawasaki không ngừng phát triển nhanh chóng bắt kịp các thương hiệu Honda, Suzuki và Yamaha về mặt kỹ thuật cũng như mỹ thuật, tiếc rằng Kawasaki đã không nhắm vào thị trường xe máy Việt Nam vào thời điểm ấy với loại xe máy dung tích 50cc nhỏ bé mà hình như Kawasaki dành mọi nổ lực chinh phục thị trường xe mô-tô có dung tích máy lớn hơn, vì sau năm 1966 Kawasaki đã tung ra thị trường Châu Âu và Châu Mỹ những xe mô-tô mạnh mẽ và thiết kế mỹ thuật hơn so với những chiếc xe sản xuất đầu thập niên 1960 mà chiếc Kawasaki 50cc M10 chỉ là kiểu xe đầu tiên của tập đoàn Kawasaki Heavy Industries.
Một kiểu xe Kawasaki 90-SS/90-S ra mắt vào cuối thập niên 1960 nhằm cạnh tranh trực tiếp với chiếc Honda S-90 Sport - hình dáng mỹ thuật bắt mắt cùng với động cơ 2-thì van hút xoay tròn mạnh mẽ hơn dòng xe Kawasaki 1966 cũ. Tiếc rằng không có đại lý Kawasaki nào ở Việt Nam ở thời điểm ấy nên không được biết đến.
Gần đây Kawasaki có ý định trở lại chinh phục thị trường xe mô-tô tại Việt Nam, mặc dù trước đó đã có những xe Kawasaki nhập cảng từ Thái Lan qua những văn phòng dịch vụ nhập cảng hoặc đại lý, được biết các xe Kawasaki nhất là những xe mô-tô lớn như KSR110, Ninja 300, Z800, Z1000, Vulcan 900... sẽ được chính thức nhập cảng và bảo hành bởi công ty Motorrock có trụ sở đặt tại Malaysia.
Chiếc xe đua Kawasaki XZ-R Ninja đã cũng cố vị thế của thương hiệu Kawasaki trên thị trường xe mô-tô ngày nay
Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016
Renault 4CV: xe Taxi Sài Gòn
Một trong những phương tiện giao thông độc đáo của thành phố Sài Gòn qua những thập niên 1950, 1960 và 1970 cho đến khi bị chấm dứt trong thời bao cấp sau khi miền nam Việt Nam “được” giải phóng. Xe taxi Renault 4CV đã để lại dấu ấn quan trọng trong nét sinh hoạt của dân cư Sài Gòn cùng hình ảnh khó phai nhoà trong trí nhớ của những du khách đã từng đặt chân đến Hòn ngọc Viễn Đông trong thời điểm ấy.
Những xe taxi Renault 4CV trên bến Bạch Đằng, Sài Gòn
Xe taxi Renault 4CV trên đại lộ Thống Nhất hướng về Dinh Độc Lập - Sài Gòn
Lịch sử chiếc xe Renault 4CV
Vào ngày 3 tháng mười năm 1946, khai trương Triển lảm xe ô-tô Paris, tại Pháp Quốc lần thứ 33 sau 8 năm ngưng hoạt động vì khó khăn về kinh tế và chiến tranh ở Châu Âu. Xe Renault 4CV được trình diển và ra mắt công chúng với nhiều cảm giác.
Một xe Renault 4CV trong đầu thập niên 1950 tại Pháp Quốc - đằng trước mủi xe được trang hoàng bộ“râu” với 6 thanh nhôm vắt ngang.
Được triển khai phương án chế tạo một chiếc xe dầy đủ tiện nghi và hợp với túi tiền của đa số dân cư, xe Renault 4CV do Régie Renault phác hoạ trong bí mật khi Pháp Quốc bị chiếm đóng bởi quân đội Đức Quốc Xã Hitler, xe Renault 4CV đạt được mục tiêu chinh phục ngay lập tức người tiêu dùng; là sự thành công của một chiếc xe được sinh ra từ trong bóng tối.
Một quảng cáo khuyến mãi đầu thập niên 1950, hình 4 con ngựa tượng trưng cho chiếc Renault 4 mã lực, người ta còn thấy được 4 đầu con ngựa ở tay nắm mở capot khoang trước của những chiếc xe với phiên bản De Luxe.
Một xe Renault 4CV vào giửa thập niên 1950, phiên bản Luxe có 2 tấm chắn mạ kền ở vè bánh sau
Ngày 26 tháng sáu 1940, công ty Renault được đặt dưới sự kiểm soát và điều khiển của Đức Quốc Xã khi Pháp bị chiếm đóng bởi Hitler. Mọi kế hoạch sản xuất và phát triển xe ô-tô đều bị ngừng lại, một nhóm nhỏ những kỹ sư làm việc ở hảng Renault phá rào sự cấm đoán của Đức Quốc Xã, họ tụ họp lại với nhau để cùng làm việc trên một mô hình xe ô-tô mới, một kiểu xe phổ thông dành cho đại chúng tựa như chiếc Volkswagen Type 1 (hay còn gọi là Bug hoặc Beettle hoặc Coccinelle) đã được chế tạo từ năm 1938 ở Đức Quốc. Họ có hai mục tiêu cần phải đạt được: thứ nhất là giá thành xe phải hạ để hợp với mức lương của dân chúng, thứ hai là xe ít ăn xăng giúp tiết kiệm ngân quỹ gia đình. Đó là sự khởi đầu của kế hoạch 106, nguồn gốc cũa xe Renault 4CV.
Những bích chương quảng cáo xe Renault 4CV trong thập niên 1950
Sau khi dành lại đất nước năm 1944 và đánh đuổi quân đội Đức Quốc Xã hướng về Berlin trong thời kỳ cuối của Đệ Nhị Thế Chiến. Công ty Renault không chậm trể trong việc khởi động lại nhà máy, tháng ba 1945, ông Pierre Lefaucheux thế chổ ông Louis Renault để lãnh đạo toàn bộ Công ty Quốc Doanh Renault. Vị Tổng Giám Đốc mới nầy hân hoan cổ võ cho kế hoạch 106, một chiếc xe dân dụng rẻ tiền và tiết kiệm về kinh tế, ông ta còn khuyến khích những chi tiết cải tiến để hoàn thiện kiểu xe nầy trước khi đưa vào quy trình sản xuất.
Một kiểu xe Renault 4CV đầu tiên tại Paris, cửa xe mở ra hướng về trước cũng gây nhiều tranh cải trong công ty Renault về sự thiết kế xe - chú ý về đèn báo hiệu đổi hướng trên cánh cửa sau của chiếc xe
Một xe Renault 4CV đằng sau Nhà thờ Notre Dame de Paris, một phụ nữ đang tạo dáng để chụp ảnh giới thiệu kiểu xe 4CV với mui xe có thể mở ra và đóng vào
Những chiếc xe Renault 4CV rời nhà máy trong năm 1947 với một giàn đồng, một động cơ, một mầu sơn duy nhất cho kiểu xe ra mắt công chúng. Thời hậu chiến vừa trong giai đoạn khởi đầu không cần đến những phô trương mầu mè... Việc trước mắt là đáp ứng nhu cầu đi lại của dân chúng sau khi nước Pháp vừa mới được giải phóng là niềm hạnh phúc, sự tự do và những ngày nghỉ hè!
Renault 4CV là biểu hiệu sự tự do mà Pháp Quốc vừa dành được sau khi Đức Quốc Xã bại trận và là phương tiện đầu tiên cho phép đa số dân chúng đi nghỉ hè
Một đèn báo hiệu đổi hướng trên những đợt xe Renault 4CV đầu tiên, khi đổi hướng thanh đèn mở ra đóng vào tựa như người lái xe đưa tay vẩy
Nhẹ nhàng với 560 Kg và tiết kiệm, xe Renault 4CV có thể chở 4 người thoải mái trong chiếc xe có mặt sàn bằng phẳng và cổ máy mới đặt phiá sau. Được sản xuất trên 1 triệu chiếc xe, trên một giàn máy lắp ráp dây chuyền khởi đầu cho việc tự động hoá quy trình sản xuất, Renault 4CV đạt được thành tích từ kiểu xe cơ bản “Service” đến các kiểu phức tạp hơn với kiểu xe mui trần, hoặc kiểu xe thể thao 1063. Renault đã đem sản phẩm bán tại Hoa Kỳ và cùng lúc với những chiếc Renault 4CV sản xuất tại Nhật Bản.
Một phiên bản Renault 4CV Luxe năm 1950
Tay lái và bảng điều khiển xe Renault 4CV trong những năm đầu thập niên 1950
Một phiên bản Renault 4CV Découvrable
Vừa mới ra mắt công chúng, Renault 4CV đã trở thành một xe đua độ đáng nể, ngày 19 tháng chín năm 1948, xe 4CV đã đoạt giải đầu tiên trong cuộc đua vùng núi Ventoux tại Pháp. Việc nầy gây sự chú ý đến những vị lãnh đạo nhà máy đưa đến việc sản xuất kiểu xe thể thao Renault 1063. Chiếc xe nầy liên tiếp đoạt nhiều giải thưởng từ năm 1951 đến 1954: Rallye de Monte-Carlo, Rallye des Tulipes, Coupe des Alpes, Tour de France và ngay cả trong vòng đua 24 giờ ở Mans. Kiểu xe nầy rất dể cải tiến nên những người thợ cơ khí giàn đồng thủ công có thể cải tiến tùy thích như ông Jean Rédélé đã thực hiện với kiểu xe 4CV Alpine.
Bích chương quảng cáo Renault 4CV thắng cuộc đua Rallye de Monte-Carlo bởi tay đua Louis Rosier, người sau nầy cải tiến xe 4CV thành xe Rogue
Một xe Renault R1063 phiên bản đua độ tài tử với bộ chế hoà khí kép Solex
Chiếc Renault 4CV cũng thành công với kỷ lục khuyến mãi tại Pháp Quốc. Xe thứ 500.000 rời dây chuyền sản xuất vào tháng tư năm 1954. Sáu năm sau đó, dây chuyền ngưng sản xuất xe Renault 4CV với tổng cộng 1.105.547 xe xuất xưởng, một kỷ lục về công nghệ xe ô-tô Pháp vào thời điểm ấy và đánh dấu như một sản phẩm kỳ diệu phục vụ đời sống dân chúng tại Pháp Quốc vừa mới hưởng được tự do thời hậu chiến.
Một xe Renault 4CV R1063 và xe thể thao Alpine A106 cải tiến từ xe 4CV
Hino Renault 4CV “Made in Japan”
Trong thập niên 1950, thị trường xe ô-tô ở Nhật Bản là một thị trường khép kín nằm phiá bên kia trái đất, Nhật Bản sản xuất những kiểu xe nhượng quyền từ các hảng xe ô-tô Châu Âu và vì thế, công ty Renault đã đặt chân đến xứ mặt trời mọc.
Một logo của xe Hino-Renault 4CV
Một quảng cáo rao bán xe Hino-Renault trên báo chí Nhật
Sau cuộc chiến tranh vừa chấm dứt, Nhật Bản chỉ là đống tro tàn đổ nát. Để đứng dậy, Nhật Bản cần phải khởi động lại nền công nghiệp của mình. Một trong những trụ điểm của công nghiệp Nhật bản là kỹ nghệ cơ khí và việc sản xuất xe ô-tô đáp ứng nhu cầu vận chuyển nằm trong trục công nghệ cơ khí.
Điều khó khăn gặp phải là nước Nhật chưa đạt đến nền công nghiệp cao và đất nước rất hiếm khoáng sản. Trên phương diện địa lý, nước Nhật là một chuổi những hòn đảo chập chùng đồi núi nối tiếp nhau, có những vùng bị cô lập và đường xá thật tồi tệ.
Những hình ảnh khuyến mãi xe Hino-Renault tại Nhật Bản
Cơ xưởng lắp ráp xe Hino-Renault tại thị trấn Hino, Tokyo, Nhật Bản
Trong thập niên 1930, công nghệ xe ô-tô Nhật Bản chỉ là vài con số. Khi Nhật Bản nằm trong tay tập đoàn quân phiệt, họ thu hút những doanh nhân kỹ nghệ đến từ Hoa Kỳ. Những doanh nhân nầy đặt nhà máy lắp ráp xe ô-tô tại Nhật Bản và chế độ quân phiệt áp đặt những cơ xưởng ấy thành những nhà máy quốc doanh nhằm vào việc sản xuất xe quân đội mà không phải chi trả tiền bản quyền - trường hợp điển hình là xe Rikuo Type 97, một kiểu xe mô-tô Harley-Davidson sidecar sử dụng phổ biến trong quân đội Nhật Bản trong suốt Đệ Nhị Thế Chiến.
Vào cuối thập niên 1940, Nhật bản nhắm vào việc cộng tác với các công ty sản xuất xe ô-tô Châu Âu và từ đó, Nissan liên kết với Austin và Mitsubishi với Kaiser-Frazer.
Những tài liệu quảng cáo xe Hino-Renault 4CV tại Nhật Bản
Công ty Hino là một công ty chuyên về sản xuất động cơ Diesel cho tàu thủy. Một thương nghiệp bị cấm đoán bởi hiệp ước hoà bình San Francisco 1951 vì Hino đã sản xuất những động cơ cho các tầu chiến Nhật trong thời chiến. Vì thế Hino quay sang công nghệ phụ là sản xuất xe vận tải, công ty đã liên hệ với MITI, Bộ Kinh Tế Nhật Bản để tìm kiếm một đối tác kỹ nghệ.
Chiếc xe Renault 4CV là một sản phẩm thời hậu chiến sinh ra trong bí mật đã trở thành hấp dẩn với thị trường xe ô-tô giá rẻ, công ty Renault trở thành công ty quốc doanh “La Régie Nationale des Usines Renault - RNUR” đã thành công mỹ mản trong việc đưa chiếc Renault 4CV ra thị trường. Xe 4CV cũng được xuất cảng sang Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Thiết kế động cơ trong một tài liệu của xe Hino-Renault tại Nhật Bản
Một xe Hino-Renault 4CV, tay lái bên phải
Thế là Renault nhận được đề nghị của MITI Nhật: “Nếu các ông muốn tiếp tục bán xe Renault 4CV tại Nhật, các ông phải sản xuất xe tại chổ.”
Về phiá công ty Hino, họ cũng bị sức ép của MITI, số lượng xe sản xuất bắt buộc vào năm đầu là 2.000 xe, năm kế tiếp là 2.400 và những năm sau là 3.600 xe kể từ năm thứ ba.
Những xe Renault đầu tiên xuất xưởng Hino vào năm 1953, đó là những chiếc xe được lắp ráp tại Nhật với những cơ phận rời nhập cảng từ Pháp Quốc. Những chiếc xe “Hino-Renault” đầu tiên giống như những xe Renault 4CV tại Pháp như hai giọt nước.
Thị trường xe ô-tô Nhật là những chiếc xe thuộc kích cở trung bình, giá bán khá cao không hợp với túi tiền của đa số người tiêu dùng và những chiếc xe cực nhỏ (gọi là Kei-car). Xe Renault 4CV đáp ứng lại nhu cầu tiêu dùng vì kích cở khá lớn so với xe Kei-car và giá bán cũng tương đương với loại xe nầy. Xe 4CV thành công trong việc chinh phục thị trường Nhật Bản, đặc biệt với những người chạy Taxi.
Bộ Kinh Tế Nhật MITI còn khuyến cáo công ty Hino phải sử dụng một số cơ phận sản xuất nội địa, RNUR Pháp buộc phải cung cấp bản vẽ kỹ thuật cho nhà máy Hino. Lãnh đạo công ty Renault đành chấp nhận với nhiều ngờ vực.
Một xe Hino-Renault 4CV sản xuất nhượng quyền tại Nhật Bản
Hino lợi dụng tình thế nầy để thay đổi những chi tiết xe, thông thường những thay đổi chi tiết phải thông qua sự đồng ý của Renault, thoạt đầu Renault từ chối nhưng sau cùng đành chấp thuận với điều kiện là công ty Hino sẽ đảm trách việc sản xuất và kinh doanh kiểu xe Dauphine tại Nhật Bản khi xe nầy vừa mới tung ra thị trường. Dù sao, đồng ý hay không đồng ý, Hino đã thay đổi chi tiết xe 4CV.
Pierre Lefaucheux, Tổng Giám Đốc công ty Renault qua đời năm 1955, ông Pierre Dreyfus lên thừa hành việc lãnh đạo nhà máy trong tình thế căng thẳng với Hino. Năm 1957, Hino tự ngưng trao đổi với Renault và tiếp tục sản xuất xe Hino-Renault 4CV mà không trả tiền bản quyền cho Renault.
Vài chi tiết về xe Hino-Renault 4CV
Nhờ vào việc sản xuất xe Renault 4CV tại Nhật Bản, Hino rút tỉa nhiều kinh nghiệm trong công nghệ xe ô-tô, chiếc xe Hino Contessa tung ra thị trường Nhật vào năm 1961, xe nầy là chiếc Renault 4CV với sự thay đổi hình dáng cơ thể ngoại hình.
Xe Hino Contessa, một xe cải tiến dựa trên mẫu xe Renault 4CV
Xe Hino Contessa được sản xuất đến năm 1963, không lâu sau đó, Tổng Giám Đốc công ty Hino qua đời và Toyota đã mua lại toàn bộ nhà máy Hino.
Renault 4CV tại Mỹ Châu và Úc Châu
Tại Hoa Kỳ, Renault đã thiết lập Renault Selling Branch từ năm 1906 với 2 chi nhánh đầu tiên tại New York và Chicago. Vào thời điểm ấy, Renault có vị thế không đáng kể vì Renault chỉ nhập vào Hoa Kỳ những loại xe đắt tiền, tuy nhiên danh tiếng của Renault được giới tiêu thụ xe ngoại quốc yêu thích với những kiểu xe đua tốc độ và đường trường nhưng sau Đệ Nhất Thế Chiến, những chiếc xe Renault hạng sang đắt tiền không thể cạnh tranh với xe Cadillac. Chỉ sau Đệ Nhị Thế Chiến, Renault mới trở lại chinh phục thị trường xe ô-tô ở Hoa Kỳ.
Một bích chương quảng cáo xe Renault 4CV tại Hoa Kỳ
Công ty Renault of France được thành lập vào đầu thập niên 1950 và nhập cảng xe Renault 4CV kiểu "Americanized", vài năm trước đó, nhà xuất nhập cảng xe ô-tô Green ở New York đã đem chiếc Renault 4CV rao bán ở Hoa Kỳ nhắm vào thị trường xe nhỏ và tiết kiệm. Tuy nhiên Renault không thể chinh phục được thị trường xe ô-tô ở Hoa Kỳ, nơi mà dân tiêu dùng ưa chuộng loại xe kích cở lớn và giá xăng dầu ở Hoa Kỳ lúc ấy không đắt như ngày nay.
Một xe Renault 4CV nhập cảng vào Hoa Kỳ ngày nay rao bán được $14.500 USD
Năm 1951, Renault đã xuất cảng vào Châu Mỹ khoảng 170.000 chiếc Renault 4CV - tại Argentina, một kiểu xe thực dụng 4CV được cải tiến với băng ghế sau tháo ra và động cơ được thay đổi với bộ chế hoà khí sử dụng nhiên liệu rẻ tiền có độ octane thấp và cho đến thập niên 1960, kiểu xe nầy được bán khắp Nam Mỹ, ngay tại Mexico cũng được người dân nghèo đón nhận, bỏ rơi những chiếc xe Mỹ ngốn nhiều xăng.
Những chiếc xe Renault 4CV bắt đầu xuất hiện ở Châu Úc vào đầu năm 1949, chính xác là ngày 21 tháng hai khi Renault cho ra mắt dân tiêu thụ xe ở Úc. Những chiếc Renault 4CV được sản xuất vào năm 1948 với tay lái bên phải đã được rao bán ở Anh Quốc.
Những chiếc Renault 4CV ngày nay tại Úc do những người sưu tập xe cổ trưng bày
Những chiếc Renault 4CV sau đó được lắp ráp tại Úc vào năm 1951 dưới tên Renault 760 và 750 do dung tích của động cơ. Những xe Renault lắp ráp tại chổ có một vài chi tiết cải tiến phù hợp với điều kiện thời tiết ở Châu Úc, mầu sơn cũng khác biệt, tuy nhiên cũng có những xe Renault 4CV được nhập cảng nguyên chiếc từ Pháp.
Có tất cả khoảng 12.500 chiếc Renault 4CV được bán ra ở Úc theo ước lượng từ số xe được đang ký, ngoại trừ kiểu Commercial, R1063 và xe mui trần không được nhập cảng vào Úc Châu. Ngày nay chỉ còn khoảng 100 chiếc Renault 4CV lưu thông ở Úc do những hội viên của hội xe cổ 4CV còn sử dụng.
Các kiểu xe Renault 4CV
Có rất nhiều phiên bản xe Renault 4CV (khoảng gần 40) thay đổi theo thời gian, tuy nhiên được xếp thành 7 phiên bản chính.
Kiểu
| Chi tiết |
4CV Affaires
|
Renault đề xuất trong tháng 10 năm 1951, một mô hình xe ít tốn kém vàchắc chắn. Gọi là 4CV Affaires - Giao Tế, mô hình này vẫn có những đặc điểm tương tự như chiếc xe cơ bản. Cuối năm 1954, kiểu nầy nhận được thêm một đèn hậu thứ hai mà vẫn khác với các kiểu xe khác bởi sự thiếu hụt vài thiết bị cơ bản của nó và vài chi tiết xe không được mạ kền. Trên mô hình xe Giao Tế năm 1952 và 1953, Renault đề nghị thêm chi tiết tùy chọn: mui trần.
|
4CV Sport
|
Các xe 4CV Sport - Thể Thao xuất hiện ngày 15 tháng 12 năm 1951 (đầu năm 1952) thay thế Catalog xe Grand Luxe sang trọng. Động cơ R1062,748cc phát triển 21 mã lực. Nước sơn được thay đổi trong những năm qua.Trong số các màu sắc có sẵn vào năm 1959 gồm mầu trắng Réjane, xanh dương Capri, đen, xám và mầu xanh Erin Pompadour (hoặc Ireland).
|
4CV Commerciale
|
Kiểu 4CV Commerciale - Thương Mại, chỉ có phiên bản duy nhất màu đen.Nó có thể chở được 200 kg và cung cấp một khối lượng hửu dụng xuyên qua việc loại bỏ các ghế sau và ghế hành khách phía trước. Sàn gỗ bao gồm toàn bộ bề mặt có sẵn. Cửa sau bị mù, không gắn kính và hoàn toàn bịt bằng thép lá, do đó có sự hiện diện của một kính chiếu hậu bên ngoài.Nó có cùng một thiết bị và các đặc tính như các 4CV khác. Phiên bản nầy bị bỏ rơi vào tháng ba năm 1952.
|
4CV Service
|
Để cạnh tranh với chiếc Citroen 2CV hay xe Con Cóc trong cùng kích cở, Renault đã quyết định cho trình làng vào tháng mười năm 1952, một xe 4CV dưới tên gọi: xe Sedan đơn giản hoá. Các chi tiết của xe 4CV bị lột đến cùng cực để có được mức giá cạnh tranh. Nội thất được sơn thường, ghế ngồi được sản xuất với một lưới kim loại phủ vải. Nó chỉ có một đèn hậu và không có đèn báo thay đổi hướng. Những cánh cửa được lắp ráp một cách tiết kiệm, cửa ra vào đóng mở bằng dây cáp và cửa phiá sau gắn kính cố định.
Về mặt thẩm mỹ, nó đã không có gối đệm trên các thanh cản và cũng không có 6 “râu” bằng nhôm trang trí ở mui trước, chỉ còn logo Renault. Bởi nhiều khuyết điểm, sau khi bán ra, nó đã có vài ưu điểm hơn các phiên bản khác, nâng cao dung tích thùng xe phía trước, kể từ khi bình điện được cài đặt trong khoang động cơ, bánh xe dự phòng được cài thẳng đứng phiá trước. Kiểu xe Service - Dịch Vụ được sơn một màu xám mờ gọi là mầu xám Antoinette, tạo ra kiểu xe riêng biệt. Thiếu tiện nghi thoải mái và thiết kế sơ sài làm cho nó bị xa lánh bởi khách hàng, họ quay sang mua xe Citroën 2CV. Renault đành bỏ rơi phiên bản nầy vào tháng tám năm 1953. |
4CV Découvrable
|
4CV Mui trần xuất hiện đầu tiên tại Salon de Paris năm 1949, trong màu sơn đỏ Bordeaux. Nó là kiểu R1060, tức là dung tích máy 760cc. Một năm sau đó, từ kiểu R1062 động cơ 747cc, xe 4CV Mui trần được gắn thêm những niềng gia cố dưới dạng hình tam giác đặt trong góc trên cùng của khoang máy. Chỉ có duy nhất phiên bản “Grand Luxe” với những bộ phận mạ kền phong phú, nó là một phiên bản phức tạp của Renault 4CV.
Các xe 4CV Mui trần cuối cùng rời khỏi nhà máy ngày 2 tháng tám năm 1956, mặc dù doanh số bán hàng đã bắt đầu giảm trong năm 1953. Có tất cả 9.518 xe phiên bản này được sản xuất giữa năm 1951 và 1952. Số lượng này được xem là thấp so với 1,1 triệu xe được sản xuất. Giá xe là 535.500 francs vào tháng Bảy năm 1951, phiên bản này được cho là quá đắt tiền, mặc dù đối thủ cạnh tranh của nó, như xe Panhard Dyna, thậm chí còn đắt nhiều hơn nữa. Tuy nhiên giá bán không phải là rẻ so với dòng xe sedan “Grand Luxe” với giá 444.500 francs và “Luxe” với giá 390.500 francs. |
4CV R1063
|
Đề xuất từ sự mong muốn của các khách hàng tham gia vào các cuộc đua, xe 4CV R1063 là phiên bản thể thao đầu tiên bắt nguồn từ một mô hình phổ biến của Renault. Chỉ có bộ cơ thể dàn đồng và khối động cơ theo tiêu chuẩn xe thường. Đầu xi-lanh được thiết kế lại để cung cấp một tỉ lệ nén là 8,2 - trong khi các pistons, van và lò xo van là khác biệt. Trục khuỷu cốt được làm bằng duralumin tôi luyện, và trục khuỷu lòng máy được cân bằng hơn các động cơ thường. Mạch dầu có dung tích 4 lít thay vì 2 lít trên loạt xe 4CV thường. Động cơ, trong khi đó, được hỗ trợ bởi một bộ chế hòa khí kép Solex 30 AAI (hoặc Solex 30 pAAI) và phát triển một sức mạnh của 32 mã lực với 5.200 vòng/phút, tăng tốc độ tối đa tới 120 km/giờ. Những kiểu R1063 sau đó đã được tăng lên đến 35 mã lực với vòng máy 5.500 vòng/phút cho kiểu xe du lịch, phiên bản với một tỉ lệ nén tăng lên 8,429 - đảm bảo đạt đến125 km/giờ trên mặt đường phẳng.
Những thay đổi khác bao gồm bộ ly hợp được gia cố, tay lái nhạy hơn và 4 bộ nhún ở phía sau. Xe được cải tiến đáng kể là tốt. Bảng điều khiển được thêm một tachometer - đồng hồ tua máy, nhiệt kế nước máy và một ampe kế. Hai đèn bổ sung phiá trước và kèn cảnh báo đặc biệt tạo thành vẻ đặc biệt của chiếc xe thể thao này. Ở phía sau xe, kiểu R1063 người ta có thể nhận dạng xe bởi hai lổ hút không khí bổ sung, giữa bộ đèn sau và tấm bảng số xe. |
4CV Pie
|
Sự xuất hiện của dòng xe 4CV trong năm 1950 buộc cảnh sát Paris phải được trang bị các phương tiện phù hợp. Nếu không có cạnh tranh thực sự, kiểu xe 4CV đã được ông Gobin Giám Đốc Sở Cảnh sát Paris lựa chọn. Năm 1952 , Cơ xưởng Currus đã nổi tiếng với việc chuyển đổi cải tiến chiếc xe Citroën Van H thành “giỏ salad”, cơ xưởng nầy cải tiến 1 kiểu Renault 4CV thành mô hình đặc biệt gọi là Type “H”.
Năm 1955, sau các cuộc hội thảo của cảnh sát Paris hình dạng đặc biệt của cửa xe được cải tiến. Sơn màu đen và trắng, chiếc xe nhỏ này nhanh chóng có biệt danh là “xe 4CV chim ác đen”. Có tất cả 73 chiếc xe Renault 4CV Pie trong Sở cảnh sát vùng sông Seine. Với một bình điện 12 volt và bộ ly hợp điện từ Ferlec, công suất động cơ tăng lên bằng cách gắn một bộ phận hút và xả đa dạng đặc biệt, của bộ chế hoà khí Solex 32 với đèn pha xoay hướng được, và sửa đổi bằng cách tăng tỉ lệ nén của động cơ. Thêm vào đó một ổ khoá chống trộm Neiman. Xe có công suất 30 mã lực và đạt tốc độ tối đa 120 km/giờ. Hơn nữa, 4CV Pie được trang bị một máy thu phát sóng ngắn để liên lạc giữa cảnh sát viên . Nhiều phiên bản đặc biệt khác xuất hiện để sử dụng trong các trường hợp khác nhau. |
Hoạt cảnh chế tạo và lắp ráp xe Renault 4CV cuối thập niên 1940
Một xe Renault 4CV Découvrable
Tay lái và bảng điều khiển trên đợt xe Renault 4CV cuối cùng
Một xe Renault 4CV Pie cải tiến đặc biệt cho cảnh sát
Ngoài ra còn có kiểu xe Rogue mà ông Louis Rosier, một tay lái xe đua và là đại lý xe Renault ở Clermont-Ferrand cải tiến chiếc 4CV thành xe đua. Ông ta đã nhờ một văn phòng nghiên cứu hình dáng xe ở Turin, Ý nghiên cứu một dạng xe đua 2 chổ ngồi dựa trên kiểu Renault 4CV, hình dạng như chiếc thuyền làm bằng nhôm, kiểu xe Rosier Rogue quá đắt tiền nên không thể sản xuất hàng loạt.
Những xe Renault 4CV ngày nay trưng bày tại Pháp Quốc
Một xe Renault 4CV được rao bán ở Pháp
Ông Rosier trình bầy xe Rogue trong cuộc triển lãm xe New York International Motor Show vào tháng ba năm 1954 được sản xuất bởi Plasticar, trong Show nầy Jean Redélé cũng trình bầy một kiểu xe La Marquis chế tạo bởi Allemano dựa trên xe Renault 4CV, sau đó ông ta đã kết hợp với Plasticar Inc. ở Doylestown, Pennsylvania tại Hoa Kỳ đặt mua 150 sàn và động cơ 4CV từ hảng Renault để chế tạo kiểu xe La Marquis bằng sợi thủy tinh, một vật liệu mới nhẹ và bền chắc cùng rẻ tiền hơn dùng thép lá rập khuôn. Một hợp đồng giửa Plasticar và Redélé để sản xuất xe đổi lại quyền kinh doanh xe nầy tại Hoa Kỳ cho Plasticar.
Một xe Alpine A106 dựa trên kiểu xe Renault 4CV ngày nay, xe Alpine trở thành một thương hiệu nổi tiếng về loại xe thể thao ở Pháp
Nhiều tuần lể trôi qua không có tin tức gì, Jean Redélé trở lại hảng Plasticar thì thấy chiếc xe mô hình mẫu La Marquis dùng để làm khuôn bị tháo gở và dàn bánh trước được gắn vào chiếc xe Rogue. Ông lập tức hủy hợp đồng với Plasticar và mua lại 150 sàn xe Renault. Redélé sau đó tìm được doanh nghiệp Chappe & Gosselin để chế tạo kiểu xe mới vẫn dựa trên xe Renault 4CV gọi là A106 và từ đó tên xe Alpine được ra đời.
Ngày nay xe cổ Renault 4CV còn được sử dụng trong các đám cưới tại Pháp Quốc
Renault 4CV tại Việt Nam
Các xe Renault 4CV được nhập cảng vào Việt Nam vào cuối thập niên 1940 là phiên bản 4CV Affaires, sau đó xe được cải biến thành xe taxi do nhu cầu vận chuyển đặc biệt của thành phố Sài Gòn, nơi điểm nối của các nước Đông Nam Á về hướng đông đến Hong Kong, Tokyo, Seoul trước khi với tay đến Châu Mỹ hoặc hướng tây đến Phnom Penh, Bangkok...
Những xe Renault 4CV taxi trên đường phố Sài Gòn
Một đồng hồ tính tiền xe taxi Sài Gòn trong thập niên 1950 & 1960
Một tài xế Taxi Sài Gòn đang sửa chửa xe
Được sơn 2 màu trắng ngà và xanh, xe taxi Sài Gòn thoạt đầu chỉ có kiểu Renault 4CV trong thập niên 1950, dần dần thêm các kiểu xe Renault Dauphine, Simca, Peugeot trong thập niên 1960, tuy rằng Renault đã ngưng sản xuất xe 4CV từ năm 1961, chiếc 4CV taxi Sài Gòn vẫn là biểu tượng duy nhất của thành phố dưới bàn tay khéo léo của các tay thợ máy, các thợ phay tiện lành nghề tự chế tạo được các cơ phận rời để thay thế, những xe taxi Renault 4CV vẫn chạy trên đường phố cho đến sau 1975 khi Sài Gòn“được” giải phóng, xe 4CV taxi đã biến mất trên đường phố vì chính sách “cải tạo công thương nghiệp”cùng “bài trừ tư sản mại bản” của chính quyền mới thời bao cấp đưa đến kết quả những nhà máy ngưng hoạt động vì thiếu nguyên liệu, những cổ máy sản xuất hàng tiêu dùng nằm rỉ sét dưới nắng mưa và những chiếc taxi Renault 4CV cũng cùng chung số phận.
Renault Fiftie
Năm 1996, để kỷ niệm lần thứ năm mươi của xe Renault 4CV, hảng Renault xây dựng mô hình xe Fiftie.
Một thiết kế ngoại thất độc đáo và hiện đại, tất nhiên đề cập đến 4CV của thời xa xưa. Loại xe Fiftie dưới hình thức của một xe Berlinetta hai chỗ ngồi. Cơ thể dàn đồng được làm bằng sợi carbon, trên chiếc tấm phản cửa đan bằng mây và ghế làm bằng sợi lanh và bông. Dưới mui xe, một động cơ 1.149cc cung cấp 60 mã lực. Xe Fiftie này là một sự pha trộn tinh tế của truyền thống cũ và thời hiện đại, xe vẫn trong trạng thái mô hình và không thấy được đem vào sản xuất quy mô.
Một thiết kế ngoại thất độc đáo và hiện đại, tất nhiên đề cập đến 4CV của thời xa xưa. Loại xe Fiftie dưới hình thức của một xe Berlinetta hai chỗ ngồi. Cơ thể dàn đồng được làm bằng sợi carbon, trên chiếc tấm phản cửa đan bằng mây và ghế làm bằng sợi lanh và bông. Dưới mui xe, một động cơ 1.149cc cung cấp 60 mã lực. Xe Fiftie này là một sự pha trộn tinh tế của truyền thống cũ và thời hiện đại, xe vẫn trong trạng thái mô hình và không thấy được đem vào sản xuất quy mô.
Mô hình xe Renault Fiftie ra mắt kỷ niệm 50 năm chiếc xe Renault 4CV
Nguồn: Wikipedia - Renault Automobiles - Le BlogAuto - 4cv-renault.com - Bring-a-trailer.com - voitures-renault-free.fr - AutoPhotoSite.com - Michel Duparet - jeef.pilon.free.fr - AllSportAuto.com - Blogs về xe Renault 4CV France.
Được tạo bởi Blogger.

